- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Chí A - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Chí A.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHA DA TỈNH CM ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2019/HS-PT Ngày 30 – 8 - 2019 |
NHA DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHA DA TỈNH CM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng
Các Thẩm phán:
Ông Chung Văn Kết
Ông Trần Trọng NhA
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm là Thư ký Toà án nhA dA tỉnh CM.
- Đại diện Viện kiểm sát nhA dA tỉnh CM tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh CM xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 121/2019/TLPT-HS ngày 26 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Lê Chí A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2019/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện TVT.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Chí A, sinh năm 1994; nơi đăng ký nhA khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp KHB, xã KBT, huyện TVT, tỉnh CM; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 8/12; dA tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Thanh H và bà: Ngô Kim Đ; vợ: Nguyễn Lâm Thiên, con: 01 người, sinh năm 2015; Tiền án, Tiền sự: Không; bị khởi tố áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 04/4/2019 đến nay; bị cáo tại ngoại có mặt.
- Bị hại: Ông Hồ Văn D, sinh năm 1975 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lâm Thị T, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Cùng trú tại: Khu phố BH, thị trấn KL, huyện KL, tỉnh KG.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Lê Thanh H, sinh năm 1962 (có mặt).
2. Bà Ngô Kim Đ, sinh năm 1962 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp KHB, xã KBT, huyện TVT, tỉnh CM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 17/3/2019, Lê Chí A, Hồ Văn D, Nguyễn Lâm Thạnh và Sơn Bình nhậu tại nhà của A thuộc ấp KHB, xã KBT, huyện TVT, tỉnh CM. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ nhậu. Hồ Văn D đi bộ về trước, A lấy xe hiệu Exciter màu xanh - trắng, biển số kiểm soát 69N1-170.36 của A chở Nguyễn Lâm Thạnh và Sơn Bình đưa về, A lái xe chạy được khoảng 500 mét hướng ra cống Kinh Hòn thị gặp D đang đi bộ nên dừng xe lại chở D luôn. Lúc này, A điều khiển xe ngồi sau là Thạnh, D và Bình, tất cả điều không đội mũ bảo hiểm. A lái xe cách cống Kinh Hòn khoảng 100 mét thì Bình và Thạnh xuống xe đi bộ D vẫn ngồi trên xe, Thạnh rủ đến nhà Thạnh cách đó khoảng 200 mét nhậu tiếp thì tất cả đồng ý.
A lái xe chở D qua cống xuống lộ nhựa theo hướng đi Đá Bạc thì dừng lại đợi Thạnh và Bình lên xe. Lúc này A lái xe, D ngồi sau rồi tới Thạnh và Bình ngồi sau cùng. Khi tất cả lên xe thì A vô số 01 lên ga lớn để lấy trớn, chạy được khoảng 15 mét thì Bình ngồi sau té xuống lộ nhựa, xe bị loạng choạng mất thăng bằng, A không làm chủ được tay lái nên xe chạy qua lề phải theo hướng đi Đá Bạc được khoảng 10 mét thì xe va vào gốc cây xanh ven lề phải theo hướng lưu thông làm ngả xe. Vụ tai nạn làm D tử vong, A bị thương còn Thạnh và Bình không bị thương.
Kết luận giám định pháp y về tử thi số 26/TT ngày 03/4/2019 của Trung tâm pháp ý Sở ý tế tỉnh CM, kết luận đối với Hồ Văn D như sau: 01 vết rách da vùng thái dương phải, kích thước: 0,7cm x 0,3cm; 01 vết rách da vành tai phải, kích thước 0,8cm x 0,1cm; bầm tụ máu cơ dùng thái dương phải; vở sọ phức tạp nhiều mãnh dùng thái dương phải, kích thước 11cm; tụ máu (xuất huyết) dưới nhện dùng thái dương phải và thái dương trái; dập não dùng thái dương trái; tụ máu quanh cầu não; xuất huyết cầu não; vỡ nền sọ bên phải; nồng độ cthanol (cồn) trong máu 151mg/100ml máu. Nguyên nhA chết: Chấn thương sọ não.
Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 18.3.2019: Nơi xảy ra tai nạn: Là đoạn lộ nhựa thuộc ấp Kinh Hòn, xã KBT, huyện TVT, tỉnh CM. Lộ rộng 4m20, hai bên lề lộ có trồng cây xanh. Vị trí xe ngã tiếp giáp với gốc cây xanh bên lề phải theo hướng xe của A lưu thông, trên thA và gốc cây xanh này có nhiều vết xước, bong gãy một phần gốc khô.
Kết quả khám phương tiện: Xe mô tô biển số 69N1-170.36: Về giấy tờ: 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên tên Lê Chí A, sinh năm 1994, ấp KHB, xã KBT, huyện TVT, tỉnh CM; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 69N1-170.36 do Lê Chí A, sinh năm 1994, ấp KHB, xã KBT, huyện TVT, tỉnh CM đứng tên.
Dấu vết phương tiện: Lốp bánh xe phía trước có dính chất màu đỏ sẩm, kích thước 16cm x 2cm; gương chiếu hậu bên phải bị gẫy mất; ốp mũ mặt nạ bên trái bị bể, kích thước 8,4cm x 0,2cm; cần số, lốc máy bên trái và phần dưới bững chắn bùn bên trái có dích chất bùn đỏ sẩm; Bữn chấn bùn bên phải bị bể, kích thước 5cm x 0,2cm; Mũ ốp mặt nạ bên phải dích chất màu nâu đỏ đã khô; mũ ốp sườn và cần nAg xe phía sau có dính chấp màu nâu đỏ đã khô. Tình trạng phương tiện còn hoạt động được. Tạm giữ phương tiện xe mô tô 69N1-170.36.
Xác định lỗi: Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do Lê Chí A điều khiển xe mô tô nhưng không đảm bảo an toàn giao thông đường bộ cụ thể: Không đội mũ bảo hiểm, chở 04 người dẫn đến xe chở nặng khó điều khiển, A vô số 01 tăng ga lớn lấy trớn làm xe bị loạng choạng mắt thăng bằng không làm chủ được tay lái nên xe chạy vào lề phải va vào 02 gốc cây xanh ven đường, gây tai nạn làm anh Hồ Văn D tử vong. Vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8; khoản 1 và khoản 2 Điều 30 Luật giao thông đường bộ.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển số 69N1-170.63, màu sơn xanh-trăng; 01 đồng hồ mặt tròn, màu vàng, hiệu Sunrise, dây da màu da bò, bị đứt một bên dây của Lê Chí A; 01 đôi dép bằng nhựa, màu đen chữ Korry của Hồ Văn D. Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TVT đã trả lại 01 chiếc xe và 01 đồng hồ trên cho bị cáo A vào ngày10/4/2019.
Về trách nhiệm dA sự: Bị cáo Lê Chí A và gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số T 90.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2019/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện TVT quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt: Bị cáo Lê Chí A 06 (sáu) tháng tù về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dA sự, lãi suất chậm trả, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.
Ngày 04 tháng 7 năm 2019, bị cáo Lê Chí A có đơn kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh CM tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Chí A, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo A thừa nhận: Bị cáo A đã có hành vi điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển số 69N1-170.36 màu xanh - trắng (dung tích 134cc, số máy 55P1-314802, số khung 5P10DY314790), bị cáo có giấy phép lái xe hợp lệ. Khi điều khiển xe lưu thông bị cáo chở 04 người, không đội mũ bảo hiểm, khi khởi động động cơ, bị cáo vô số 01 tăng ga lớn làm xe bị giật người ngồi sau rơi xuống lộ, xe bị loạng choạng không làm chủ được tay lái va vào gốc cây xanh ven lề phải làm xe bị ngã. Hậu quả làm anh Hồ Văn D người ngồi phía sau bị cáo tử vong do chấn thương sọ não. Sự việc xảy ra vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 17/3/2019 trên đoạn lộ nhựa thuộc ấp Kinh Hòn, xã KBT, huyện TVT, tỉnh CM.
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2019/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2019 của Toà án nhA dA huyện TVT xét xử bị cáo A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo A thấy rằng: Bị cáo là người điều khiển phương tiện có giấy phép lái xe theo quy định nên biết rất rõ khi điều khiển xe tham gia giao thông không được chở quá số người cho phép và phải đội mũ bảo hiểm nhưng bị cáo đã không thực hiện đúng là vi phạm Luật giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo là nguyên nhA dẫn đến vụ tai nạn giao thông, dẫn đến hậu quả làm ông Hồ Văn D chết tại chỗ, để la ̣i nỗi đau không thể bù đắp đư ợc cho những người thA của bị hại. Hành vi của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ.
Quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm tài liệu chứng minh bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có con nhỏ và đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mà cấp sơ thẩm đã xem xét.
Xét mức hình phạt án sơ thẩm tuyên xử đối với bị cáo 06 tháng tù là dưới mức khởi điểm của Điều luật quy định (mức khởi điểm là 01 năm đến 05 năm) là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra cũng như đã có xem xét tất cả các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhA thA của bị cáo. Thấy rằng, việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu địa phương về phòng chống tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Do vậy, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ nhận định trên nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh CM là phù hợp.
Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhâ dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Chí A.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 65/2019/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện TVT.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt: Bị cáo Lê Chí A 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về án phí: Bị cáo A phải chịu là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhA dA tỉnh CM; - Công an tỉnh CM; - Công an huyện TVT; - Viện kiểm sát nhA dA h. TVT; - Tòa án nhA dA huyện TVT; - Chi cục THADS huyện TVT; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn; - Lưu VT( TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Châu Minh Hoàng |