- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị G. Chị Võ Thị G được ly hôn với anh Nguyễn Hoài Hồ L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2019/HNGĐST Ngày 20/9/2019 V/v Xin ly hôn và con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Viết Oanh và ông Hồ Xuân Giao
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoài Trang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk không tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 350/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04/9/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị G – Sinh năm: 1988 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn 2, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoài Hồ L – Sinh năm: 1982 ( Vắng mặt).
Địa chỉ: 44/3/5 đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị G và anh Nguyễn Hoài Hồ L tự nguyện lấy nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 06/5/2015 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh L không chăm lo cho gia đình, không quan tâm đến vợ con nên dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị G xét thấy bản thân không thể tiếp tục chung sống với anh L được nữa nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh L.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị G và anh L có 01 con chung là cháu Nguyễn Võ Bảo T - Sinh ngày: 18/3/2011.
Chị G có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu T đến tuổi trưởng thành. Chị G không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập anh Nguyễn Hoài Hồ L để làm việc và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Võ Thị G, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Hoài Hồ L đã được Toà án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Vì vậy, Hoäi đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh L.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của chị G, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị G anh L tự nguyện lấy nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 06/5/2015 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo quy định của pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị G anh L là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Về tình trạng hôn nhân của chị G anh L thì trong quá trình chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh L không chăm lo cho gia đình, không quan tâm tới vợ con nên dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được. Nên chị G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh L.
Qua kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cho biết: Anh Nguyễn Hoài Hồ L cư trú tại địa chỉ 44/3/5 đường Đ, tổ dân phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên anh L thường xuyên vắng nhà nên Tòa án không tiến hành tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh L được. Về mâu thuẫn vợ chồng thì quá trình chung sống tại địa phương, anh L chị G thường xuyên xảy ra mâu thuẫn đã được chính quyền địa phương hòa giải nhưng không thành. Hiện nay chị G và anh L đã sống ly thân khoảng 05 năm.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị G anh L xảy ra trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị G xin ly hôn với anh L là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, cần chấp nhận.
Về con chung: Chị G và anh L có 01 con chung là cháu Nguyễn Võ Bảo T - Sinh ngày: 18/3/2011.
Chị G có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu T đến tuổi trưởng thành. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án thì anh L đều vắng mặt tại Tòa án, và qua kết qủa xác minh tại chính quyền địa phương thì anh L cũng thường xuyên vắng nhà đây cũng là một trong các điều kiện không đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Xét nguyện vọng của chị G và các điều kiện nuôi dưỡng con. Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T cho chị G nuôi dưỡng là hợp lý.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị G không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Võ Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị G. Chị Võ Thị G được ly hôn với anh Nguyễn Hoài Hồ L.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Võ Bảo T- Sinh ngày: 18/3/2011 cho chị Võ Thị G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Anh Nguyễn Hoài Hồ L được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị G không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Võ Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐST được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị G đã nộp theo biên lai số: AA/2017/0012433 ngày 13/5/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Anh Nguyễn Hoài Hồ L không phải chịu tiền án phí.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. BMT; - Chi cục THADS Tp.BMT; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Thanh |