vanban.org

Bản án 126/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 19/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thị Thêu - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 53 Bộ luật Hình sự

Số: 126/2018/S-ST

T A ÁN NHÂN DÂN CỘNG H A XÃ HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM TỈN ĐỒNG NAI ---------------- Ngày: 19 – 4 – 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM -------------------------- T A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN H A TINH ĐÔNG NAI - Th nh phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân ướng Các ội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan Bà Trần Thị ồng Ngọc - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên òa, tỉnh Đồng Nai. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Biên Hòa, tỉnh Đ ng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Băng – Kiểm sát viên Ngày 19 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên òa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2018/TLST- S ngày 22 tháng 3 năm 2018 theo Quyêt định đưa vụ án ra xét xử số 108/2018/QĐXXST- S ngày 06 tháng 4 năm 2018, đối với bị cáo: Đoàn Thị T, sinh năm 1959 tại à Nội. Nơi đăng ký KTT: 237/80 Trần Văn Đang, phường 11, quận 3, thành phố ồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoa: lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nư; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn P và bà Nguyễn Thị C; co chồng là uỳnh Văn M và 02 con; tiền án, tiền sự: không co; bị tạm giam ngày 04/12/2017. Bị hại: Bà Lương Thị N, sinh năm 1946 Địa chỉ: Tổ 18, khu phố 3A, phường Tân Biên, thành phố Biên òa, Đồng Nai. Người làm chứng: 1/ Anh Tạ Quang , sinh năm 1972 Địa chỉ: 264/19 tổ 13 khu phố 3, phường Long Bình Tân, thành phố Biên òa, tỉnh Đồng Nai. 2/ Anh Bùi Xuân G, sinh năm 1975

Địa chỉ: 264/36 khu phố 3A, phường Long Bình Tân, thành phố Biên òa, tỉnh Đồng Nai. (Bị cáo co măt, bị hại và nhưng người làm chứng văng măt) NỘI DUNG VU ÁN Theo các tài liệu co trong hồ sơ vụ án và diễn biên tại phiên tòa, nội dung vụ án đươc tom tăt như sau: Ngày 02/12/2017, Đoàn Thị T đươc người phụ nư tên (chưa xác định đươc tên thật và địa chỉ) rủ đên khách sạn Minh Khang tọa lạc tại khu phố 1, phường Tân iệp, thành phố Biên òa để găp Nguyễn Văn D (ngụ tại tổ dân phố Trực Cát 1, phường Tràng Cát, quận i An, thành phố i Phòng) để bàn bạc về việc sử dụng hạt hạnh nhân gi làm thuốc chưa bệnh tiểu đường lừa bán cho người bị bệnh tiểu đường nhăm chiêm đoạt tiền. Tại đây, giới thiệu với T tên của D là T, sau đo phân công cụ thể công việc cho từng người như sau: gi làm bác sĩ, tìm kiêm người bị bệnh tiểu đường hoăc bệnh khớp để tiêp cận noi chuyện trước. Thêu đi theo sau gi là người bệnh rồi rủ rê người bệnh cùng đi mua thuốc. Khi người bệnh đồng ý mua thuốc, T và đưa đên găp tên D. D sẽ đong vai là giáo sư đồng thời là người bán thuốc. D đươc òa chuẩn bị cho hai bịch lớn, trong mỗi bịch lớn co 05 goi nhỏ, mỗi goi kho ng 100gam hạt hạnh nhân màu nâu, dẹt không co nhãn mác, không nguồn gốc xuất xứ và không co hướng dẫn sử dụng gi làm thuốc chưa bệnh. D sẽ trực tiêp bán thuốc cho người bệnh và T. Để cho người bệnh tin tưởng T sẽ bỏ tiền ra mua. Nêu người bệnh không mang theo tiền, T sẽ ứng trước cho người bệnh, sau đo T đi cùng người bệnh về nhà họ để lấy tiền rồi chiêm đoạt. Sau khi bàn bạc xong, vào luc 07 giờ 30 ngày 04/12/2017, đi đên khu vực tổ 18, khu phố 3A, phường Long Bình Tân, thành phố Biên òa găp bà Lương Thị N đang đi bộ. tự giới thiệu mình là Bác sĩ rồi hỏi thăm bệnh của bà N thì đươc bà N noi là mình bị bệnh tiểu đường giai đoạn cuối, co noi quen một Giáo sư bán thuốc th o dươc co kh năng chưa khỏi bệnh tiểu đường. Cùng luc đo, T đi đên noi mình cũng bị bệnh tiểu đường và rủ bà N lên xe cùng đi với T đên đoạn đường thuộc tổ 22, khu phố 3, phường Long Bình Tân găp D.Tại đây, giới thiệu D là giáo sư bán thuốc th o dươc chưa đươc tiểu đường. D noi co 02 loại thuốc: 01 loại giá 80 triệu đồng/ 1 liệu trình; loại còn lại giá 17.500.000đ/ 1 liệu trình. Bà N đồng ý mua loại 17.500.000đ nhưng noi mình không mang theo tiền thì T noi mình co tiền; noi với T là ứng tiền ra mua cho bà N rồi về nhà bà N lấy lại sau. Do tin tưởng là thuốc chưa hêt bệnh tiểu đường nên bà N đồng ý mua, để bà N không nghi ngờ, T lấy ra 34.000.000đ đưa cho D để lấy 02 bịch hạt hạnh nhân và sau đo T chở bà N về nhà lấy tiền. Khi về đên nhà, bà N lấy ra 17.500.000đ đưa cho T, T đưa cho bà N 01 bịch nylon bên trong co 05 goi lynon nhỏ màu trăng trong đựng kho ng 100gam hạt hạnh nhân màu nâu, dẹt không co nhãn mác, không nguồn gốc xuất xứ và không co hướng dẫn sử dụng. Khi T vừa nhận tiền của bà N đi ra đên cổng thì bị quần

chung xung quanh nhà bà N ghi ngờ nên băt giư T giao cho Công an. Riêng tên D và đã chạy thoát. Vật chứng gồm: + 17.500.000đ đã thu hồi và tr cho bà Nhăn. + 02 bịch lynon, trong mỗi bịch lớn co 05 goi nhỏ, mỗi goi kho ng 100gam hạt hạnh nhân màu nâu, dẹt không co nhãn mác, không nguồn gốc xuất xứ và không co hướng dẫn sử dụng. + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy số Imei 1: 357625082130348, số Imei 2: 357651082130344 số điện thoại 0167.745.8801 cùng số tiền 14.000.000đ là tài s n của bị cáo T không sử dụng vào việc phạm tội. + 01 điện thoại hiệu Nokia 130V13.00.11 số Imei1: 354895080089043, số Imei 2: 354895080089505 số điện thoại 0944234986 là tài s n của bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội. + 01 xe mô tô hiệu onda Vision biển số 59 1 – 749.50 là tài s n của Đoàn Thị Miên cho T mươn sử dụng, bà Miên không biêt T sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã tr lại cho bà Miên. Ngày 06/12/2017, Cơ quan c nh sát điều tra Công an thành phố Biên òa co công văn đề nghị Sở Y tê tỉnh Đồng Nai giám định loại hạt đươc niêm phong co ph i là thuốc chưa bệnh cho người hay không? Sở Y tê tỉnh Đồng Nai co công văn xác định: “Mẫu s n phẩm gửi giám định không co hồ sơ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ theo quy định. Vì vậy, s n phẩm này không ph i là thuốc đươc phép lưu hành trên thị trường Việt Nam” Tại b n cáo trạng số 101/CT/VKS- S ngày 16/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên òa đã truy tố bị cáo Đoàn Thị T về tội “Lừa đ o chiêm đoạt tài s n” quy định tại kho n 1 Điều 139 Bộ luật hình sự. Đồng thời, tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giư nguyên quyêt định truy tố và đề nghị áp dụng kho n 1 Điều 139; điểm g, p kho n 1, kho n 2 Điều 46 – BL S để xử phạt bị cáo T mức án từ 06 tháng tù đên 10 tháng tù. NHÂN ĐINH C A T A ÁN Trên cơ sở nội dung vụ án,

căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đươc tranh tụng tại phiên tòa, ội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận về hành lừa đ o chiêm đoạt tài s n như đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hơp với các lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án. [2] Đã co đủ cơ sở kêt luận: Vào luc 07 giờ 30 ngày 04/12/2017, Đoàn Thị T cùng với tên và tên Nguyễn Văn D (không xác định đươc lai lịch) co hành vi sử dụng 02 bịch nylon mỗi bịch chứa 05 goi hạt hạnh nhân màu nâu dẹt không co nhãn mác và nguồn gốc xuất xứ noi dối là thuốc chưa bệnh tiểu đường để bán cho bà Lương Thị N với giá 17.500.000đ. Khi bị cáo T vừa nhận tiền thì bị

quần chung băt qu tang. ành vi của bị cáo T đã cấu thành tội “Lừa đ o chiêm đoạt tài s n”. Tội phạm và hình phạt đươc quy định tại kho n 1 Điều 139 Bộ luật hình sự. [3] ành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đên quyền sở hưu tài s n của người khác nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để c i tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật, đồng thời còn nhăm răn đe và phòng ngừa chung. [4] Xét về các tình tiêt tăng năng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự

nhận thấy: Bị cáo không co tình tiêt tăng năng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài s n đã đươc thu hồi tr lại cho bị hại nên thiệt hại chưa x y ra, gia đình bị cáo kho khăn. Do đo, ội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. [5] Về dân sự trong vụ án: Bị hại không co yêu cầu gi i quyêt nên ội đồng xét xử không xem xét. [6] Về vật chứng: + Tịch thu tiêu hủy 02 bịch nylon, bên trong mỗi bịch co 05 goi lynon nhỏ màu trăng trong đựng kho ng 100gam hạt màu nâu, dẹt, không co nhãn mác, không co hướng dẫn sử dụng và nguồn gốc xuất xứ. + Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại hiệu Nokia 130V13.00.11 số Imei1: 354895080089043, số Imei 2: 354895080089505 số điện thoại 0944234986 là tài s n của bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội. + Tr lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy số Imei 1: 357625082130348, số Imei 2: 357651082130344 số điện thoại 0167.745.8801 cùng số tiền 14.000.000đ là tài s n của bị cáo T không sử dụng vào việc phạm tội. [7] Về án phí: Buộc bị cáo ph i nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định. Đối với tên Nguyễn Văn D và tên đã cùng bị cáo T tham gia thực hiện hành vi lừa đ o nhưng do chưa xác định đươc nhân thân nên khi nào băt đươc sẽ xử lý sau là phù hơp. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐINH

Căn cứ vào kho n 1 Điều 139; điểm g, p kho n 1, kho n 2 Điều 46, Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999; Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị T phạm tội “Lừa đ o chiêm đoạt tài s n”. 1. Xử phạt bị cáo Đoàn Thị T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2017. 2. Ap dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999;

+ Tịch thu tiêu hủy 02 bịch nylon, bên trong mỗi bịch co 05 goi lynon nhỏ màu trăng trong đựng kho ng 100gam hạt màu nâu, dẹt, không co nhãn mác, không co hướng dẫn sử dụng và nguồn gốc xuất xứ. + Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại hiệu Nokia 130V13.00.11 số Imei1: 354895080089043, số Imei 2: 354895080089505. + Tr lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy số Imei 1: 357625082130348, số Imei 2: 357651082130344 số điện thoại 0167.745.8801 cùng số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng). Toàn bộ vật chứng nêu trên đươc bàn giao theo Biên b n giao nhận tài s n ngày 03/4/2018 và Biên lai thu tiền số 009673 ngày 03/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên òa. 3. Về án phí: Ap dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo ph i nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Bị cáo co quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại văng măt tại phiên tòa thì co quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đươc b n án.

Cỡ chữ