vanban.org

Bản án 126/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 17/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lò Văn L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/01/2018. Án phí: Buộc bị cáo Lò Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 126/2018/HSST
Ngày: 17/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Định.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lường Văn Hịa.

2. Bà: Bạc Thị Kiên.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Châm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2018, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2018/HSST ngày 13/4/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2018/QĐXXST-HS ngày 03/5/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn L;

Tên gọi khác: Không.

Sinh năm: 1978, tại Điện Biên.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Đội 16, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Thái;

Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 4/12 ;

Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Con ông: Lò Văn V, sinh năm 1934 và bà Lò Thị H, sinh năm 1936.

Có vợ: Lò Thị H1, sinh năm 1977 và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2000.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2018 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 20/01/2018, Lò Văn L mang theo 100.000 đồng đi bộ từ nhà thuộc đội 16, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến đầu đội 16, xã N để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, L gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 35 tuổi (Không biết tên, địa chỉ). Qua trao đổi biết người đàn ông đó có ma túy bán nên L đã hỏi mua. L đưa cho người đàn ông số tiền mang theo. Sau khi nhận tiền người đàn ông đưa cho L 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng, bên trong có 02 viên Methamphetamine. L cầm ở tay phải đi về nhà còn người đàn ông đó đi đâu L không biết. Sau khi về đến nhà L cất số Methamphetamine vừa mua được dưới đệm trong phòng ngủ rồi đi ngủ. Hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đang ngồi ở bàn uống nước và lấy gói Methamphetamine mua được lúc trước ra chuẩn bị sử dụng thì Công an huyện Điện Biên đến nhà kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 02 viên dạng viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều ghi chữ WY, nghi là ma túy tổng hợp. Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.

Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng đối với số vật chứng thu giữ của Lò Văn L có khối lượng là 0,19 gam, gửi toàn bộ làm mẫu gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 276/GĐ-PC54 ngày 14 tháng 02 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lò Văn L gửi giám định là Methamphetamine.

Tại phiên toà, trong lời luận tội đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Khối lượng 0,19 gam Methamphetamine, đã gửi toàn bộ mẫu đi giám định, không hoàn lại sau giám định nên không đề nghị xem xét, xử lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhất trí nội dung Cáo trạng; lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận, không có lời bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng; ngườ i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, Lò Văn L khai nhận do bản thân nghiện, sử dụng ma túy nên hồi 14 giờ 30 phút ngày 20/01/2018, tại nhà ở của mình thuộc Đội 16, xã N, huyện Đ. Lò Văn L đã có hành vi cất giấu trái phép 0,19 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với các bản cung của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong, mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đúng với nội dung Cáo trạng; hành vi cất giấu trái phép khối lượng 0,19 gam Methamphetamine của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

. Xét tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm gia tăng người nghiện ma túy trong xã hội và tiếp tay cho các loại tội phạm, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần được phát hiện kịp thời và áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.

. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn L là người có nhận thức pháp luật, nghiện ma túy từ năm 2015; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử có thái độ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ "Thành khẩn khai báo", quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt bổ sung; vật chứng; án phí và các vấn đề khác trong vụ án:

Hình phạt bổ sung: Bị cáo Lò Văn L ngoài thu nhập từ làm ruộng ra không còn thu nhập ổn định khác, không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, vì vậy không áp dụng.

Vật chứng: 0,19 gam Methamphetamine là vật chứng trong vụ án, cơ quan CSĐT Công án huyện Điện Biên đã gửi toàn bộ làm mẫu giám định, không hoàn lại mẫu sau giám định nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Nguồn gốc số Methamphetamine có được là do bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái, không biết tên, địa chỉ nên không có cơ sở xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Xử phạt bị cáo Lò Văn L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/01/2018.

3. Án phí: Buộc bị cáo Lò Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ