vanban.org

Bản án 126/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 23/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015;

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T1 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T1 tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:126/2018/HS-ST
Ngày: 23/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Phúc

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Quân

Ông Đỗ Đắc Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hạnh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ

Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Quàng Văn T1, sinh năm 1996; Đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: B, xã P, huyện Đ1, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Khơ Mú; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn N và bà Lò Thị P; Vợ là Lò Thị T2; Có 02 con: con lớn SN 2013, con nhỏ SN 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/01/2018. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số I – Công an thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/01/2018 tại đường Đ, phường M1, quận N, thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường M1 bắt quả tang Quàng Văn T1 đang cầm ở tay trái 02 gói giấy nhỏ màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy, Quàng Văn T1 khai nhận đó là Heroin mà T1 tàng trữ để mang đi sử dụng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 02 gói giấy nhỏ màu xanh, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, số seri 1: 356010087013701, số seri 2: 356010087013719.

Tại Bản kết luận giám định số 780/KLGĐ-PC54 ngày 23/01/2018 xác định: chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy màu xanh đều là ma túy loại heroin, tổng khối lượng là 0,151 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Quàng Văn T1 khai nhận: do nghiện ma túy, khoảng 17 giờ 40 phút ngày 16/01/2018, T1 đi bộ ra đường PH, phường MT, quận N thì tình cờ gặp nam thanh niên không rõ nhân thân đi xe máy loại tay ga, màu trắng (không nhớ BKS và loại xe) đến rủ T1 cùng góp tiền mua ma túy để sử dụng. T1 đồng ý đi mua ma túy nên thanh niên kia đưa 200.000 đồng cho T1. Sau đó T1 điện thoại cho một người phụ nữ (không rõ nhân thân) hỏi mua 400.000 đồng ma túy loại heroin, người này hẹn T1 ra đường T2, phường M2, quận N để giao ma túy. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T1 đi bộ ra đường T đưa cho người phụ nữ này 400.000 đồng và nhận 02 gói giấy nhỏ màu xanh bên trong chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, T1 cầm ma túy trên tay trái đi bộ về đường Đ, phường M1 gặp thanh niên góp tiền để cùng nhau sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an phường M1 phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc ma túy T1 khai mua của một phụ nữ không rõ nhân thân tại đường T2 để sử dụng. Cơ quan điều tra dẫn giải T1 đến địa điểm mua ma túy để tiến hành rà soát nhưng chưa phát hiện đối tượng bán ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với đối tượng góp 200.000 đồng với T1 mua ma túy do không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Quá trình điều tra: Bị cáo Quàng Văn T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Bản cáo trạng số 143/CT-VKS ngày 23/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Quàng Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, bị cáo Quàng Văn T1 khai nhận hành vi của mình, thành khẩn nhận tội.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Quàng Văn T1 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 gói giấy màu xanh, bên trong chứa heroin trọng lượng 0,151 gam; đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen. Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 16/01/2018 tại khu vực đường Đ, phường M1, quận N, thành phố Hà Nội, Quàng Văn T1 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,151 gam heroin thì bị Công an phường M1 bắt quả tang cùng vật chứng.

[2] Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên thì phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: 02 gói giấy màu xanh bên trong chứa heroin, khối lượng 0,151 gam cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Quàng Văn T1 không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về đề nghị của Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: xét thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015;

- Điều 38; Điều 47; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015;

- Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn T1 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2018.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 02 gói giấy màu xanh bên trong chứa heroin, khối lượng 0,151 gam; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen số seri 1: 356010087013701, số seri 2: 356010087013719.

Về án phí: Bị cáo Quàng Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Quàng Văn T1 có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ