vanban.org

Bản án 126/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 26/09/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSPT - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 232 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
Bản án số: 126/2018/HS-PT
Ngày: 26-9-2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hồng Hải

Các thẩm phán: Ông Bùi Văn Lam

Ông Bùi Đinh Thông

̀

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Nữ Ngo ̣c Diê ̣p – Thư ký Tòa án nhân dân tinh̉ Hà Tĩnh

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh: BàNguyễn Quỳnh Lê.

Ngày 26tháng 9 năm 2018, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 110/2018/HSPT ngày 04/9/2018.

Do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn D.

Đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2018/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Toà án nhân dân huyê ̣n Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Lê Văn D, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1976, nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã K, huyê ̣n K, tỉnh Hà Tĩnh; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiê ̣p: Lao đô ̣ng tự do ; con ông Lê Văn X và bà Nguyễn Thi ̣ H ; vợ Dương Thi ̣ B , sinh năm: 1977, con: có 04 con, lớ n sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; biê ̣n pháp ngăn chă ̣n: cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

NỘI DUNG VỤÁN

Theo Bản án hình sự sơ thẩm, bị cáo: Lê Văn D bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng đầu năm 2015, Lê Văn D, Phạm Hữu T và Vũ Văn M đi chă ̣t củi trên rừng thì phát hiện một hố bom có dấu vết đào bới từ trước. Cả ba tiếp tục đào và nhă ̣t được mô ̣t số thuốc bom còn sót la ̣i . Lê Văn D nhă ̣t được khoảng 0,5kg còn T và M nhă ̣t được vài cu ̣c nhỏ. D đưa về cất ta ̣i nhà riêng . Cũng trong năm 2015, trong thờ i gian làm công nhân mỏ đá Hoà nh Sơn ta ̣i đi ̣a bàn xa K ,̃ huyê ̣n K, Lê Văn D nhă ̣t được mô ̣t số kip nổ , dây cháy châ ̣m sau khi nổ đá và xin

́

được mô ̣t số kip nổ điê ̣n cùng dây cháy châ ̣m từ những ngườ i thợ ky thuâ ̣̃

t nổ đá

́ rồi đưa về cất dấu cùng số bom trướ c đó . Số kip nổ D đa cẵ ́t rờ i đầu kip . Khoảng

́

́ đầu năm 2016, Lê Văn D la ̣i xin được khoảng 03kg thuốc nổ (dạng đạn) từ những ngườ i thợ ky thuâ ̣̃

t trong mỏ đá Hoành Sơn rồi đưa về cất dấu cùng số thuốc nổ trướ c đó.

Khoảng giữa tháng 12 năm 2017, Nguyễn Ma ̣nh C, sinh năm 1982, trú tại phườ ng K, thị xã K , tỉnh Hà Tĩnh gọi điện thoại nhờ Lê Văn D mua hô ̣ it pháo

́ hoa. Ngày 25-12-2017, Lê Văn Duyên đi dự đám cướ i ta ̣i huyê ̣n Vũ Quang gă ̣p ngườ i đàn ông tên T và được Tuấn cho 03 bánh pháo hoa, loại 36 quả 01 bánh. D đưa về cất dấu ta ̣i nhà riêng cùng số thuốc nổ trướ c đó. Ngày 28-12-2017, Lê Văn D bán 03 bánh pháo hoa nói trên cho C với giá 3,1 triê ̣u đồng. Khoảng 20 giờ ngày 28-12-2017, khi C đang vâ ̣n chuyển số pháo hoa trên về nhà thi bi ̣ lực lượng

̀ chứ c năng phát hiê ̣n thu giữ. Từ lờ i khai của Nguyễn Ma ̣nh C, cơ quan điều tra ra lê ̣nh khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn D và thu giữ toàn bộ số vật liệu nổ đã cất dấu trướ c đó vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 29-12-2017.

Tại Kết luận giám đi ̣nh số 82/C54-P2 ngày 30-01-2018 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an , kết luâ ̣n: Mẫu vâ ̣t có ký hiê ̣u N4 là hỗn hợp thuốc nổ có thành phần chinh gồm Trinitrotoluen (TNT), hexogen (RDX) và bột nhôm (Al);

́ mẫu vâ ̣t có ký hiê ̣u N5 là thuốc nổ công nghiệp ANFO;

Tại Biên bản giám định số 74/BB-KT ngày 11-01-2018 của Phòng kỹ thuâ ̣t, Bô ̣ Chi huy quân sự̉

tinh Hả

̀ Tinh , kết luâ ̣̃

n: Mẫu ký hiê ̣u N 1 là dây cháy châ ̣m – vỏ sợi; mẫu ký hiê ̣u N 2 là kíp nổ điê ̣n số 10 – vỏ nhôm (loại to, dài), đa ̃ được cắt bỏ phần mồi lử a điê ̣n và kip nổ số 8 – thườ ng, vỏ nhôm (loại nhỏ, ngắn);

́

mẫu ký hiê ̣u N3 là mồi lửa điện.

Tại Bản án hình sự sơ thẩmsố21/2018/HSST ngày20/7/2018của Tòaán nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đa tuyên bố các bị cáo Lê Văn D phạm tộĩ “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 232; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 199, xử phạt bị cáo Lê Văn D 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Ngoài ra án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày25-7-2018, bị cáo Lê Văn D kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa bị cáo bổ sung nội dung kháng cáo xin được hưởngán treo với lý do bị cáo lần đầu phạm tội, hoàn cảnh gia đinh khó khăn; bị cáo cung cấp tài liệu

̀

mớ i là hồ sơ hoàn thành nghia vu ̣̃

quân sự, Đơn trinh bày hoàn cảnh gia đinh khó

̀

̀ khăn có xác nhâ ̣n của chinh quyền đi ̣a phương và Báo cáo hoa ̣t đô ̣ng của đối

́ tượng của Công an xa Kỹ ̀ Lâm , huyê ̣n Kỳ An h về viê ̣c Lê Văn D sau khi thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i đa ăn năn , hối cải, chẫ

́p hành nghiêm chinh mọi quy định̉ của địa phương , trướ c đó là mô ̣t ngườ i lao đô ̣ng chất phác , có ý thức xây dựng làng xã, quê hương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tinh sau khi phân tích, đánh giá̃ các tình tiết của vụ án và đơn kháng cáo của bị cáo đã đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 của BLTTHS, không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Lê Văn D giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬNĐỊNH CỦA TÒAÁN

[1]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Văn D hoàn toàn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội cũng như hoàn toàn phù hợp với lời khai của các nhân chứ ng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh không bị kháng nghị, bị cáo Lê Văn D kháng cáo xin được hưởng án treo. Điều đó khẳng đi ̣nh bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn D về tội “tàng trữ trái phép vật liê ̣u nổ” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luâ ̣t.

[2]. Hành vi của bị cáoLê Văn D là tàng trữ 13,3m dây cháy châ ̣m, 0,35 kg thuốc bom, 03kg thuốc nổ công nghiê ̣p ANFO , 34 kíp nổ và 46 mồi lử a điê ̣n dùng cho kíp nổ.

Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý vật liệu nổ của Nhà nước, đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Bị cáo Lê Văn D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo quy đi ̣nh tại tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; chính quyền địa phương xác nhận hoàn cảnh gia đinh khó khăn nên được hưởng tình

̀

tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự là đúng quy đi ̣nh pháp luật.

[4]. Quá trình xét xử phúc thẩm , bị cáo Lê Văn D cung cấp tài liệu mớ i là Đơn trinh bày hoàn cảnh : vợ đau yếu thườ ng xuyên , đang nuôi 04 con ăn ho ̣c

̀ (lớ n sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2015), bị cáo nuôi cha già trê n 90 tuổi và me ̣ già trên 80 tuổi bi ̣ mù lòa , bản thân bị cáo đa thự̃

c hiê ̣n xong nghia vu ̣ quân sự ,

̃ chỉ học hết lớp 4 nên hiểu biết về pháp luâ ̣t có phần ha ̣n chế , thu nhâ ̣p của gia đinh chủ yếu phu ̣ thuô ̣c vào bi ̣ cáo ; xác nhận của Công an xã K, huyê ̣n K về viê ̣c ̀ trướ c và sau khi pha ̣m tô ̣i bi ̣ cáo là ngườ i chất phác , thâ ̣t thà chi vỉ chưa am hiểu

̀ pháp luật mà phạm tội nên đề nghị cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Do đó , Lê Văn D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS khác quy đi ̣nh tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Xét thấy, hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn , viê ̣c áp du ̣ng biê ̣n pháp chấp hành hình phạt tù giam đối với bị cáo ảnh hưởng rất lớ n đến cuộc sống của gia đinh, đă ̣c biê ̣t là viê ̣c ho ̣c hành của 04 ngườ i con và chăm sóc cha me ̣ già yếu .

̀ Đối chiếu với quy đi ̣nh được hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm p hán Tòa án nhân dân tối cao , HĐXX thấy rằng việc cho bị cáo Lê Văn D được hưởng án treo là không trái quy đi ̣nh của pháp luật nên xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm là phù hợp, thể hiê ̣n tinh thần nhân đa ̣o của pháp luâ ̣t hinh sự Viê ̣t Nam.

̀

[6] Về án phí: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

1.Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Lê Văn D. Sửa bản án sơ thẩm số 21/2018/HSST ngày 20-7-2018 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh về biê ̣n pháp chấp hành hình phạt tù,

2. Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 232; điểm pkhoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Lê Văn D– 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,thời gian thử thách 24 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

3. Về hâ ̣u quả của viê ̣c vi pha ̣m nghia vu ̣̃

trong thờ i gian thử thách : Trong thờ i gian thử thách , ngườ i được hưở ng án treo cố ý vi pha ̣m nghia vu ̣̃

02 lần trở lên thi Tòa án có thể quyết đi ̣nh buô ̣c ngườ i đượ c hưở ng án treo phải chấp hành

̀ hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Lê Văn D cho Ủy ban nhân dân xã K , huyện K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Trường hợp những người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

4. Áp dụng Điều 135 BLTTHS; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 23/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn Duyên không phải chịu án phí HSPT.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ