vanban.org

Bản án 1258/2026/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/06/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/06/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Quang T.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Quang T được miễn án phí. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Nguyễn Quang T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Quang T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3 Nghị định số 73/2024/NĐ-CP Quy định mức lương cơ sở và chế đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1258/2026/DS-PT
Ngày 24-6-2026
V/v Tranh chấp về bồi thường
thiệt hại do danh dự, nhân phẩm,
uy tín bị xâm phạm
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Luật

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Cường;

Ông Nguyễn Thanh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tình - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 506/2026/TLPT-DS ngày 11 tháng 3 năm 2026, về việc: “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ D, ấp B, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố D, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Võ Thành N, sinh năm 1998 và bà Huỳnh Phúc Thiên Â, sinh năm 2003; cùng địa chỉ liên hệ: Tầng A, Tòa nhà B, số B Đại lộ B, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 05/11/2025); vắng mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Quang T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm:

* Theo Đơn khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung đề ngày 23/6/2025, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Quang T trình bày:

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 374/2023/TLST-DS ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, ông T là nguyên đơn còn bà Nguyễn Thị Mỹ D là người tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Nguyễn Thành N1 đã có những hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông T nên nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu sau: Buộc bà D công khai xin lỗi trước mặt ông T và trên các phương tiện thông tin đại chúng; buộc bà D bồi thường danh dự nhân phẩm cho ông T do bị xúc phạm số tiền 100.000.000 đồng; buộc bà D bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần cho ông T số tiền 100.000.000 đồng; buộc bà D bồi thường thiệt hại về vật chất, sức khỏe do ông T phải điều trị ở bệnh viện với số tiền 1.991.000 đồng; buộc bà D bồi thường cho ông T chi phí đi khám chữa bệnh, chi phí đi khởi kiện với số tiền tạm tính 10.000.000 đồng.

* Tại đơn phản tố đề ngày 13/11/2025, biên bản lấy lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Võ Thành N và bà Huỳnh Phúc Thiên  trình bày:

Năm 2023, bà Nguyễn Thị Mỹ D tham gia vụ án “Tranh chấp về di sản thừa kế” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Quang T với bị đơn là ông Nguyễn Thành N1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với tư cách đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thành N1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Theo lời trình bày của ông N1 và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại các bản tự khai, ông T không phải là con ruột của cụ R và cụ X nên bà D trình bày theo ý kiến của bị đơn (ông N1) và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chứ không phải là ý kiến của bà D. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần đề nghị ông T cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh về quan hệ nhân thân giữa ông T và cụ R, cụ X những tài liệu ông T cung cấp lại là 02 giấy khai sinh khác nhau. Sau đó, ông T thay đổi yêu cầu khởi kiện sang “Tranh chấp hợp đồng tặng cho” thay vì “Tranh chấp di sản thừa kế”, xét thấy việc xem xét quan hệ nhân thân để giải quyết “Tranh chấp hợp đồng tặng cho” là không cần thiết nên Tòa án không xem xét quan hệ nhân thân. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà D đã trình bày rõ vì yêu cầu khởi kiện của ông T không còn là “Tranh chấp di sản thừa kế” nên bà D không trả lời hay trình bày bất cứ vấn đề gì về nhân thân. Tại Bản án số 77/2025/DS-ST ngày 04/6/2025, tại mục 1.2 (trang 8), Hội đồng xét xử cũng đã nhận định do nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện nên Tòa án không xem xét vấn đề nhân thân.

Ngày 26/6/2025, Đoàn Luật sư tỉnh B nhận được Đơn tố cáo của ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1954 với nội dung bà Nguyễn Thị Mỹ D có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, nhân thân của ông T và cha mẹ ông. Tại Công văn số 42/CV-ĐLS ngày 04/8/2025, Đoàn Luật sư tỉnh B đưa ra nhận định “việc tố cáo của ông Nguyễn Quang T đối với Luật sư Nguyễn Thị Mỹ D chưa đủ cơ sở để giải quyết”, việc bà D thực hiện các quyền trong đó có quyền lập luận, tranh luận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Như vậy, bà D đã làm đúng vai trò, trách nhiệm, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Việc ông T khởi kiện bà D tại Tòa án và Đoàn Luật sư tỉnh B gây thiệt hại, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của bà D, ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng đối với bà D. Hiện tại bà D đang là Phó Chủ tịch Hội đồng khen thưởng kỷ luật Đoàn Luật sư Thành phố H, việc khởi kiện của ông T ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của bà D.

Do đó, bà D yêu cầu ông T bồi thường thiệt hại uy tín, danh dự, nhân phẩm cho bà D. Số tiền yêu cầu bồi thường là mười lần mức lương cơ sở. Căn cứ theo khoảng 2 Điều 3 Nghị định 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024, mức lương cơ sở hiện tại là 2.340.000 đồng/tháng (Bằng chữ: Hai triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng). Như vậy, bà D yêu cầu ông T bồi thường cho bà D số tiền: 2.340.000 đồng x 10 = 23.400.000 và yêu cầu bồi thường chi phí đi lại cho bà D số tiền tạm tính: 1.000.000 đồng x 10 (lần) = 10.000.000 đồng.

Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của bị đơn đề nghị rút yêu cầu phản tố của bị đơn buộc nguyên đơn ông T bồi thường thiệt hại uy tín, danh dự, nhân phẩm cho bà D do đó đề nghị Hội đồng xét xử xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bị đơn.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quang T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D về việc: “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.

2. Đình chỉ xét xử yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D đối với nguyên đơn ông Nguyễn Quang T về việc: “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thanh toán và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 14/01/2026, nguyên đơn ông Nguyễn Quang T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D tự mình tham gia tố tụng và giữ nguyên ý kiến rút đơn yêu cầu phản tố, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Quang T được thực hiện trong thời hạn luật định, nên việc kháng cáo là hợp lệ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn đề nghị rút yêu cầu phản tố của bị đơn buộc nguyên đơn ông T bồi thường thiệt hại uy tín, danh dự, nhân phẩm cho bà D. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D là người nhận uỷ quyền đối với bị đơn ông Nguyễn Thành N1 trong vụ án: “Tranh chấp về di sản thừa kế” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Quang T đối với bị đơn ông Nguyễn Thành N1. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 374/2023/TLST-DS ngày 02/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, bà Nguyễn Thị Mỹ D đã có những hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông T nên ông T khởi kiện bà D.

Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Quang T.

Xét thấy, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo uỷ quyền, bà D chỉ trình bày theo ý kiến của ông Nguyễn Thành N1, là người mà bà D nhận ủy quyền đại diện và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại bản tường trình ngày 28/11/2025 (bút lục 56) của ông Nguyễn Thành N1 cung cấp có nội dung: “Trong quá trình trao đổi thông tin vụ án, tôi có trao đổi và cung cấp cho bà D thông tin rằng “ ông Nguyễn Quang T không phải là con ruột của cha mẹ tôi là cụ R và cụ X”. Trên thực tế cha mẹ tôi không có người con nào tên Nguyễn Quang T (theo Văn bản số: 48/UBND-VX ngày 03/06/2024 của UBND phường H có nêu: “Hồ sơ lưu không có thông tin thông tin khai sinh của Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1954...").

Tất cả lời trình bày của bà D về mối quan hệ nhân thân của gia đình tôi là theo ý kiến của tôi, không phải là ý kiến của cá nhân bà D.”

Như vậy, có căn cứ xác định bà D chỉ thực hiện các quyền đại diện ông N1 nhân danh và vì lợi ích của ông N1, thực hiện việc đại diện trình bày theo đúng ý chí và thông tin do người uỷ quyền cung cấp.

Hơn nữa, nguyên đơn có gửi đơn tố cáo bà D đến Đoàn Luật sư tỉnh B đối với hành vi bà Nguyễn Thị Mỹ D có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, nhân thân của ông T và cha mẹ ông. Nội dung những vấn đề tố cáo của nguyên đơn đối với bà Nguyễn Thị Mỹ D đã được Đoàn Luật sư tỉnh B giải quyết theo trình tự thủ tục quy định thể hiện tại Công văn số 42/CV-ĐLS ngày 04/8/2025 (Bút lục 49), nội dung:“Qua xem xét, giải quyết Đơn tố cáo của ông Nguyễn Quang T, nội dung giải trình của Luật sư Nguyễn Thị Mỹ D cùng các tài liệu, chứng cứ mà các bên cung cấp, Ban Chủ nhiệm nhận thấy: Luật sư Nguyễn Thị Mỹ D là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là Ông Nguyễn Thành N1 trong vụ án dân sự “Tranh chấp di sản thừa kế” với nguyên đơn là ông Nguyễn Quang T. Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì Luật sư D được quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự, trong đó có quyền lập luận, tranh luận, bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự phù hợp với các quy định của pháp luật. Ngoài ra, các tài liệu, chứng cứ kèm theo Đơn tố cáo của ông Nguyễn Quang T đối với Luật sư Nguyễn Thị Mỹ D, ông T không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh quá trình hành nghề Luật sư Nguyễn Thị Mỹ D đã có hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, việc tố cáo của ông Nguyễn Quang T đối với Luật sư Nguyễn Thị Mỹ D chưa đủ cơ sở để giải quyết”.

Do vậy, nguyên đơn kháng cáo cho rằng để đạt được mục đích thắng kiện cho khách hàng của bà D mà bà D đã sử dụng những lời khai vô căn cứ, sai sự thật, không tôn trọng sự thật khách quan, đồng thời để công kích nguyên đơn nhằm xúc phạm danh dự nhân phẩm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần của nguyên đơn và gia đình nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích trên, xét thấy không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Quang T.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Quang T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Quang T.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Quang T được miễn án phí.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ