- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGỌC - MAI"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 11…
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:1255/2022/HNGĐ-ST Ngày:15/12/2022 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiển
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Quang Cảnh
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 903/2022/HNST ngày 31 tháng 8 năm 2022 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 876/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn : Ông Nguyễn FSFSFS– sinh năm 1990
Bị đơn : Bà Đặng TFSDFSDF– sinh năm 1991
Cùng địa chỉ: FF, phường FSDF, quận FSDF, Tp.HFSDF
(Tại phiên tòa, ông FSFSFS– có đơn xin vắng mặt, bà TFSDFSDF– có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 24/8/2022, bản tự khai ngày 31/8/2022, nguyên đơn ông FSFSFStrình bày : ông và bà TFSDFSDFcó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường FSDFSD quận FSDFS, thành phố FSFSD
Về mâu thuẫn gia đình : ông và bà TFSDFSDFkhông phù hợp về cách sống, hôn nhân thường phát sinh tranh chấp. Mặc dù đã nhiều lần ngồi lại để hàn gắn nhưng hai bên vẫn bất đồng, không hòa thuận. Ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với bà FSDFSD.
Về con chung : ông và bà TFSDFSDFcó một người con chung tên Nguyễn FSFSD– sinh ngày 03/9/2017, ông giao con chung cho bà TFSDFSDFnuôi dưỡng và cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng là 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Về tài sản chung : tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung : ông xác nhận không có
Ngày 30/9/2022, ông FSFSFSnộp đơn xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, lấy lời khai, hòa giải và phiên họp, phiên tòa có liên quan đến vụ án này.
Tại bản tự khai ngày 21/10/2022 và tại các buổi mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn bà Đặng TFSDFSDFtrình bày : bà và ông FSFSFStự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường FSDF, quận FSDF, thành FSDFSDF
Về mâu thuẫn gia đình : bà xác nhận ông FSFSFScó người phụ nữ khác bên ngoài nên mới dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên, bà không đồng ý ly hôn vì vẫn mong muốn tiếp tục hàn gắng cuộc hôn nhân này.
Về con chung : bà và ông FSFSFScó một người con chung tên Nguyễn FSFSD– sinh ngày 03/9/2017. Nếu giải quyết ly hôn thì bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông FSDFSD phải cấp dưỡng nuôi con chung là 20.000.000 đồng/ tháng.
Về tài sản chung, nợ chung : vợ chồng tự giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ngày 02/12/2022 nguyên đơn ông FSFSFScó đơn xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, cam kết vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và có trình bày thêm về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Bị đơn bà Đặng TFSDFSDFvẫn giữ nguyên lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến chính như sau:
Về tố tụng : Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc Tòa thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ tranh chấp và về thu thập chứng cứ, xác định đúng tư cách đương sự.Việc tham gia hỏi tại phiên tòa của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên vẫn còn vi phạm về thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, ngày 02/12/2022 chuyển hồ sơ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử đến Viện kiểm sát để ngày 15/12/2022 xét xử là chưa phù hợp theo quy định khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vi phạm này không ảnh hưởng đến thủ tục tố tụng và nội dung của vụ án, kiến nghị Tòa án khắc phục việc vi phạm quy định Điều 203 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung : Căn cứ vào Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 34/2016 ngày 04/5/2016 do Ủy ban nhân dân phường FSFD, quận FSDF, thành phố FSFSD cấp cho các đương sự thì quan hệ giữa ông FSFSFSvà bà Đặng TFSDFSDFlà quan hệ hôn nhân được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình. Hiện nay, các đương sự đang thực tế cư ngụ tại quận FSF, thành phố FSDFSD nên Tòa án nhân dân quận FGSDF, thành phố FSDFSD thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: nguyên đơn ông FSFSFScó đơn xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm và cam kết không thay đổi ý kiến. Căn cứ theo quy định Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn ông Nguyễn FDSFSDF
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình : “… 1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được…”.
Các bên đương sự đã tự xác nhận mâu thuẫn trong hôn nhân. Nguyên đơn ông FSFSFSxin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, lấy lời khai, hòa giải và phiên họp, phiên tòa có liên quan đến vụ án này. Bị đơn bà TFSDFSDFyêu cầu đoàn tụ nhưng vẫn không nêu được lý do và phương cách giải quyết để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó, Hội đồng xét xử xem xét việc chấp nhận ly hôn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn FSDFSFGSD
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung : các bên đương sự cùng xác nhận có một người con chung tên Nguyễn FSFSD– sinh ngày 03/9/2017. Các bên đương sự cùng thống nhất con chung giao cho bà TFSDFSDFtrực tiếp nuôi dưỡng. Tại bản tự khai ngày 02/12/2022, nguyên đơn ông FSFSFStrình bày như sau : “… Tôi làm sản xuất răng sứ, khi có đơn hàng mới có tiền, thu nhập không ổn định, có tháng làm chưa tới 10.000.000 đồng nhưng có tháng cũng hơn. Tháng cao nhất có thể lên đến 18.000.000 đồng nên mức cấp dưỡng 10.000.000 đồng là mức cấp dưỡng ở khả năng tôi có được…”. Bên cạnh đó, bị đơn bà TFSDFSDFvẫn không cung cấp được cho Tòa án nhân dân quận Tân Phú các tài liệu, chứng cứ chứng minh thu nhập trung bình hằng tháng của ông FSFSFStheo quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 1723/2022/QĐ-CCTLCC ngày 21/10/2022. Tại phiên tòa sơ thẩm, mặc dù đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã hỏi bị đơn bà TFSDFSDFcó yêu cầu hoãn phiên tòa và có đề nghị tòa án thu thập chứng cứ về thu nhập trung bình hằng tháng của ông FSFSFSđể xem xét phần cấp dưỡng nuôi con chung nhưng bà TFSDFSDFkhông đồng ý, từ chối hoãn phiên tòa sơ thẩm nên Hội đồng xét xử nhận thấy việc xem xét mức cấp dưỡng nuôi con chung một tháng 10.000.000 đồng là hợp lý.
Về tài sản chung : các bên đương sự xin tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: nguyên đơn ông FSFSFSxác nhận không có, bị đơn bà TFSDFSDFxin tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét về phần nợ chung trong vụ án này.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn FFSDF
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và phí cấp dưỡng nuôi con chung do ông FSFSFSphải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và Lệ phí năm 2016 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật Phí và Lệ phí năm 2016; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn FSDFSDF
- Về quan hệ hôn nhân: ông FSFSFSđược ly hôn với bà Đặng FSDFSDF. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 34/2016, ngày 04/5/2016 do Ủy ban nhân dân phường FSDFSDF, quận FSDFS thành phố FSDF cấp cho các đương sự không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: giao con chung tên Nguyễn FSFSD– sinh ngày 03/9/2017 cho bà Đặng TFSDFSDFtrực tiếp nuôi dưỡng. Ông FSFSFScấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 10.000.000 (mười triệu) đồng. Bắt đầu thi hành kể từ ngày án có hiệu lực thi hành cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Kể từ ngày người trực tiếp nuôi dưỡng con chung có đơn yêu cầu thi hành tiền cấp dưỡng, nếu người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung không thi hành thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự + Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. + Ông FSFSFScó quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. -Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Các đương sự có quyền khởi kiện trong vụ án khác. 2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do ông FSFSFSphải nộp, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0036079 ngày 31/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông FSFSFSphải nộp số tiền còn lại là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Bà Đặng TFSDFSDFkhông phải nộp án phí. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. 3. Về quyền kháng cáo: đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND quận Tân Phú; - Chi cục THA DS Q. Tân Phú; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hiển |