vanban.org

Bản án 1252/2025/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với bà Nguyễn Huỳnh Phương Như.

Buộc bà Nguyễn Huỳnh Phương Như trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền 44.028.609 đồng (bốn mươi bốn triệu không trăm hai mươi tám nghìn sáu trăm lẻ chín đồng); trong đó, nợ gốc là 10.112.806 đồng, nợ lãi quá hạn là 33.915.803 đồng. Bà Nguyễn Huỳnh Phương Như phải tiếp tục chịu lãi phát s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với bà Nguyễn Huỳnh Phương Như.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1252/2025/DS-ST
Ngày: 03/11/2025
V/v tranh chấp hợp
đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Dòn.

2. Bà Nguyễn Thị Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2025 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 458/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025 về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 527/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 483/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SG TT

Trụ sở: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Xuân Hoà, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Gia T; sinh năm 1971; (Ông Thế có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: 278 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Xuân Hoà, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Giấy uỷ quyền số 3502/2023/UQ-TGĐ ngày 13/10/2023).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Huỳnh P Nsinh năm 1993; (vắng mặt)

Địa chỉ: A33/23/1E ấp 12, xã BH, huyện BC, Thành phố H. Nay là địa chỉ: A33/23/1E ấp 12, xã BH, Thành phố H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 09/5/2024 của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín trình bày:

Ngày 07/9/2017, bà Nguyễn Huỳnh Phương Như có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 10.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau: Loại thẻ: JCB; Số thẻ: 356480-7988; Hạn mức: 10.000.000 đồng; Ngày ký hợp đồng: 07/9/2017; Lãi suất áp dụng: 2.5%/tháng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Như đã thực hiện các giao dịch rút tiền với tổng số tiền là 29.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Như chỉ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 22.000.000 đồng. Sau đó bà Như vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Như vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Như vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 01/7/2018 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ của bà Như tính tới thời điểm ngày 01/7/2018 là 10.112.806 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn bằng 150% của lãi suất nợ trong hạn, cụ thể lãi suất nợ quá hạn là 2.5%/tháng x 150% = 3.75%/tháng.

Do bà Như vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Như phải trả số tiền còn thiếu tạm tính đến ngày 03/11/2025 là 44.028.609 đồng (bốn mươi bốn triệu không trăm hai mươi tám nghìn sáu trăm lẻ chín đồng); trong đó, nợ gốc là 10.112.806 đồng, nợ lãi quá hạn là 33.915.803 đồng.

Ngoài ra Ngân hàng còn yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Huỳnh Phương Như phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 04/11/2025 cho đến khi bà Như thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

Bị đơn bà Nguyễn Huỳnh Phương Như vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bà Như.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG TT

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Huỳnh Phương Như trả lại số tiền vay là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn bà Nguyễn Huỳnh Phương Như có nơi cư trú tại A33/23/1E ấp 12, xã BH, huyện BC, Thành phố H. Nay là địa chỉ: A33/23/1E ấp 12, xã BH, Thành phố H Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Trần Gia T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời bà Nguyễn Huỳnh Phương Như đến Tòa án để tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nhưng bà Như vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Nguyễn Huỳnh Phương Như đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án nên bà Như đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Bà Như phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.

Tại khoản 1 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định:

"Khoản 1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp…

Khoản 4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án”.

Theo nội dung “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ” ngày 07/9/2017 thì có căn cứ xác định vào ngày 07/9/2017 bà Nguyễn Huỳnh Phương Như có đơn đề nghị và Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đã cấp cho bà Như thẻ tín dụng: Loại thẻ: JCB; Số thẻ: 356480-7988; Hạn mức: 10.000.000 đồng; Ngày ký hợp đồng: 07/9/2017; Lãi suất áp dụng: 2.5%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Như đã thực hiện các giao dịch rút tiền với tổng số tiền là 29.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Như chỉ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 22.000.000 đồng. Do bà Như vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 01/7/2018 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ của bà Như tính tới thời điểm ngày 01/7/2018 là 10.112.806 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn bằng 150% của lãi suất nợ trong hạn, cụ thể lãi suất nợ quá hạn là 2.5%/tháng x 150% = 3.75%/tháng.

Như vậy “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ” ngày 07/9/2017 giữa các bên được xác định là loại hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi suất. Do là hợp đồng vay có kỳ hạn nên theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có quyền yêu cầu bà Nguyễn Huỳnh Phương Như trả nợ khi đã quá hạn trả nợ mà hai bên thỏa thuận.

Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.

Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định: “2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Do sau khi được cấp Thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, bà Nguyễn Huỳnh Phương Như đã thực hiện các giao dịch rút tiền với tổng số tiền là 29.000.000 đồng và bà Như chỉ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín tổng số tiền là 22.000.000 đồng nên từ ngày 01/7/2018 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ của bà Như tại thời điểm ngày 01/7/2018 là 10.112.806 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn bằng 150% của lãi suất nợ trong hạn, cụ thể lãi suất nợ quá hạn là 2.5%/tháng x 150% = 3.75%/tháng. Do đó việc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín yêu cầu bà Như trả số tiền còn nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 03/11/2025 là 44.028.609 đồng (bốn mươi bốn triệu không trăm hai mươi tám nghìn sáu trăm lẻ chín đồng); trong đó, nợ gốc là 10.112.806 đồng, nợ lãi quá hạn là 33.915.803 đồng và yêu cầu bà Nguyễn Huỳnh Phương Như phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 04/11/2025 cho đến khi bà Như thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ.

Căn cứ những nhận định tại [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], việc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín yêu cầu bà Nguyễn Huỳnh Phương Như trả số tiền còn nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 03/11/2025 là 44.028.609 đồng (bốn mươi bốn triệu không trăm hai mươi tám nghìn sáu trăm lẻ chín đồng); trong đó, nợ gốc là 10.112.806 đồng, nợ lãi quá hạn là 33.915.803 đồng và yêu cầu bà Nguyễn Huỳnh Phương Như phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 04/11/2025 cho đến khi bà Như thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bà Nguyễn Huỳnh Phương Như phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể án phí dân sự sơ thẩm là: 2.201.430 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 280, 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 91, 92, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Điều 7, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với bà Nguyễn Huỳnh Phương Như.

Buộc bà Nguyễn Huỳnh Phương Như trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền 44.028.609 đồng (bốn mươi bốn triệu không trăm hai mươi tám nghìn sáu trăm lẻ chín đồng); trong đó, nợ gốc là 10.112.806 đồng, nợ lãi quá hạn là 33.915.803 đồng.

Bà Nguyễn Huỳnh Phương Như phải tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 04/11/2025 cho đến ngày bà Như hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay đã ký.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm:

2.1 Bà Nguyễn Huỳnh Phương Như phải chịu 2.201.430 đồng (hai triệu hai trăm lẻ một nghìn bốn trăm ba mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2.2 Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền 849.475 đồng mà Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đã đóng theo theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0028257 ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa đươc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

4/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ