vanban.org

Bản án 1250/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số:1250/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28/07/2022
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Tý;

2. Bà Bùi Diệu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Tuyết Mai – Là thư ký Tòa án nhân dân

quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên toà: ông Trương Hoài Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số

45/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2022, về việc “tranh chấp ly hôn”

theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10

tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 136/2022/QĐST-HNGĐ

ngày 05 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Trịnh Như Q, sinh năm: 1980; thường trú: 809/2/7A

đường Tân Kỳ Tân Q, khu phố 3, phường Bình Hưng H, quận Bình Tân, Thành

phố Hồ Chí Minh; tạm trú: thôn 3 xã Đắk Búk So, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk

Nông.

Bà Trịnh Như Q có đơn yêu cầu vắng mặt.

2. Bị đơn: ông Phạm Đình Th, sinh năm:1975; thường trú: 809/2/7A

đường Tân Kỳ Tân Q, khu phố 3, phường Bình Hưng H, quận Bình T, Thành

phố Hồ Chí Minh;

Ông Phạm Đình Th vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện nộp cho Tòa án và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án

có nội dung như sau:

Nguyên đơn bà Trịnh Như Q trình bày: bà và ông Phạm Đình Th có thời gian quen biết và tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2002 có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 241 quyển số 02/2003 do Ủy ban nhân dân xã Bình Hưng Hòa, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15 tháng 10 năm 2003.

Quá trình chung sống: bà và ông Phạm Đình Th chung sống hạnh phúc

đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuất bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, ông Phạm Đình Th không lo cho vợ con từ đó dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, bà không còn tình cảm với ông Phạm Đình Th nữa. Từ năm 2019 đến nay bà và ông Phạm Đình Th không còn chung sống với nhau. Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Đình Th.

Về con chung: trong quá trình chung sống bà và ông Phạm Đình Th có 01

con chung tên Phạm Tâm N, sinh ngày 27 tháng 5 năm 2015.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng

con chung, không yêu cầu ông Phạm Đình Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: bà xác định không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: bà xác định không có.

Bị đơn ông Phạm Đình Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ

lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để ông đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng ông Phạm Đình Th vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án ý kiến trình bày của ông đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân tại nơi cư trú của bà Trịnh

Như Q và ông Phạm Đình Th là Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, kết quả như sau: “đến hết ngày 25/4/2022 Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa A chưa nhận được yêu cầu hòa giải mâu thuẫn gia đình của bà Trịnh Như Q và ông Phạm Đình Th”.

Tại phiên tòa:

- Bà Trịnh Như Q có đơn yêu cầu vắng mặt;

- Ông Phạm Đình Th vắng mặt không lý do;

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố

Hồ Chí Minh:

Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong thời hạn chuẩn bị

xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ nội dung quy định về thụ lý, thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và đúng trình tự tố tụng quy định tại các Điều 196, 204, 205, 209, 210, 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc giao hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa tuân thủ đúng quy định tại Khoản 1, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng đã thực hiện

đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của người

tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70,

71 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại các

Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn.

- Các đương sự đều không nộp thêm chứng cứ cho Tòa án và không yêu

cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Trịnh Như Q

và ông Phạm Đình Th có đăng ký kết hôn, bà Trịnh Như Q yêu cầu ly hôn với

ông Phạm Đình Th nên đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết

của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn có cư trú tại quận Bình

Tân nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân,

Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a

khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Về thủ tục tố tụng: bị đơn ông Phạm Đình Th đã được Tòa án triệu tập

hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do;

Nguyên đơn bà Trịnh Như Q có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến

hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm a, điểm b

Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn 241, quyển số 02/2003 do Ủy ban nhân

dân xã Bình Hưng Hòa, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày

15 tháng 10 năm 2003 cho bà Trịnh Như Q và ông Phạm Đình Th cùng lời khai

của bà Trịnh Như Q về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên có

căn cứ xác định hôn nhân giữa bà Trịnh Như Q và ông Phạm Đình Th là hôn

nhân hợp pháp.

Bị đơn ông Phạm Đình Th đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải

quyết vụ án mà không có lý do và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể

hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do vậy Tòa án

căn cứ vào các chứng cứ và lời khai do nguyên đơn cung cấp để xem xét giải

quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: bà Trịnh Như Q và ông Phạm Đình Th chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuất bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, ông Phạm Đình Th không lo cho vợ con từ đó dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, bà không còn tình cảm với ông Phạm Đình Th nữa. Từ năm 2019 đến nay bà và ông Phạm Đình Th không còn chung sống với nhau. Do đó, bà Trịnh Như Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Đình Th. Ông Phạm Đình Th vắng mặt tại tất cả những buổi làm việc, phiên hòa giải, công khai chứng cứ do Tòa án tiến hành và tại phiên tòa xét xử vụ án, mặc dù ông Phạm Đình Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để giải quyết vụ án, ông cũng không có ý kiến về việc bà Trịnh Như Q yêu cầu ly hôn gửi đến Tòa án. Cho thấy, ông Phạm Đình Th không có thiện chí hàn gắn gia đình và không còn yêu thương, tôn trọng bà Trịnh Như Q, không quan tâm đến hôn nhân của ông bà. Mặt khác, bà Trịnh Như Q và ông Phạm Đình Th không chung sống với nhau đã lâu. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Trịnh Như Q và ông Phạm Đình Th đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau” và Điều 56 quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Như vậy, bà Trịnh Như Q và ông Phạm Đình Th đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng là không thương yêu, tôn trọng, quan tâm đến nhau.

Từ những nhận định nêu trên, căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51 và khoản

1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trịnh Như Q đối với ông Phạm Đình Th.

Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trịnh Như Q và

ông Phạm Đình Th có 01 con chung tên Phạm Tâm N (Nữ), sinh ngày 27/5/2005. Bà Trịnh Như Q yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu ông Phạm Đình Th cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Phạm Đình Th đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, điều này chứng tỏ ông không quan tâm đến hôn nhân giữa ông và bà Trịnh Như Q cũng như không quan tâm đến yêu cầu về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Mặt khác, căn cứ vào Khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Đến thời điểm Tòa án xét xử vụ án Phạm Tâm N (Nữ) đã trên 07 tuổi, Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của trẻ Như và cháu muốn sống cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung Phạm Tâm N (Nữ) cho bà Trịnh Như Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự

nguyện của bà Trịnh Như Q không yêu cầu ông Phạm Đình Th cấp dưỡng nuôi

con.

Về tài sản chung: bà Trịnh Như Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên

Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: bà Trịnh Như Q xác định không có nên không xem xét.

. Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội

đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên đã trình bày tại phiên

tòa về hướng giải quyết vụ án.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Trịnh Như Q phải chịu án phí theo quy

định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1

Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm a điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều

266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 19, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82,

Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Như Q về việc xin ly hôn

với ông Phạm Đình Th.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: bà Trịnh Như Q được ly hôn với ông Phạm

Đình Th.

Giấy chứng nhận kết hôn số 241, quyển số 02/2003 do Ủy ban nhân dân

xã Bình Hưng Hòa, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15

tháng 10 năm 2003 cho bà Trịnh Như Q và ông Phạm Đình Th không còn giá

trị.

1.2. Về con chung: bà Trịnh Như Q và ông Phạm Đình Th có 01 con

chung tên Phạm Tâm N (Nữ), sinh ngày 27 tháng 5 năm 2005.

Giao trẻ Phạm Tâm N (Nữ) cho bà Trịnh Như Q được trực tiếp chăm sóc,

nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận sự tự nguyện của bà Trịnh Như Q không

yêu cầu ông Phạm Đình Th cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Phạm Đình Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được

cản trở. Vì lợi ích của con Tòa án có thể quyết định thay đổi việc cấp dưỡng

nuôi con khi có yêu cầu của cha, mẹ; thay đổi quyền nuôi con của bà Trịnh Như Q khi bà Trịnh Như Q, ông Phạm Đình Th hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu.

Bà Trịnh Như Q có quyền yêu cầu ông Phạm Đình Th thực hiện nghĩa vụ

theo quy định tại điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia Đình năm 2014; yêu cầu ông Phạm Đình Th cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Bà Trịnh Như Q cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông

Phạm Đình Th trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

1.3. Về tài sản chung: bà Trịnh Như Q không yêu cầu Tòa án giải quyết

nên không xem xét.

1.4. Về nợ chung: bà Trịnh Như Q xác định không có nên không xem xét.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm

nghìn đồng) bà Trịnh Như Q phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà bà Trịnh Như Q đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0033203 ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, bà Trịnh Như Q đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Các đương sự thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo: đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng

cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ