vanban.org

Bản án 125/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 27/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Ngọc B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1,2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc B 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Ngọc B - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Ngọc B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2026/HS-ST
Ngày 27 tháng 5 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Huy Toàn

2/ Ông Nguyễn Thế Khải

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ, Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2026, đối với:

1. Bị cáo: Trịnh Ngọc B, sinh ngày 18/5/1998 tại Thanh Hóa; trú tại: Thôn L, xã Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn B1 và bà Trần Thị L; vợ Nguyễn Hoàng Yến N và 01 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

2. Bị hại:

- Anh Phan Việt H (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phan Hữu V, sinh năm 1978 và bà Lê Thị M, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu A, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; đều vắng mặt.

- Chị Bùi Mai P, sinh năm 2007; địa chỉ: Thôn V, xã P, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

3. Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần T; địa chỉ: Tòa C, số B, xã A, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Khương Khải Đ, sinh năm 1981; địa chỉ: Tòa nhà C, xã A, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Ngọc B là nhân viên lái xe tại Công ty cổ phần T do ông Khương Khải Đ là Tổng giám đốc. Ông Đ giao cho B quản lý, sử dụng xe ô tô tải, nhãn hiệu CNHTC, biển kiểm soát: 29H- 346.16 để đi giao thiết bị giáo dục khi có đơn vị đặt hàng. Chiều ngày 09/8/2025, B điều khiển xe ô tô trên đi giao tủ đựng tài liệu cho trường THCS T1 tại phường V, tỉnh Phú Thọ. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, B giao hàng xong thì điều khiển xe đi từ trường THCS T1 để về Thanh Hóa. Khi B điều khiển xe ô tô đi đến gần ngã tư đường giao nhau giữa đường K kéo dài với đường Đ thuộc địa phận tổ dân phố R, phường V, tỉnh Phú Thọ với tốc độ khoảng 40km/h thì B chỉ quan sát bên phải và phía trước xe ô tô mà không chú ý quan sát phía bên trái theo chiều đi của xe ô tô nên B không nhìn thấy anh Phan Việt H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Exciter, biển số xe: 19L1 – 321.88 chở chị Bùi Mai P đang đi theo hướng đường Đ đi vào ngã tư rồi rẽ trái để đi vào đường K kéo dài (cùng chiều đi với B). Do đó, khi B đi vào khoảng giữa ngã tư đường giao nhau thì mới nhìn thấy xe mô tô do anh H điều khiển cách đầu xe ô tô của B khoảng 02 mét nhưng B không giảm tốc độ hay dừng lại ngay lập tức, dẫn đến việc xe ô tô đã đâm vào đầu xe bên trái xe mô tô của anh H làm cho xe mô tô cùng anh H, chị P bị đổ ngã ra đường và bị cuốn vào gầm xe ô tô. B đánh lái điều khiển xe ô tô sang bên phải và đạp phanh cho xe dừng lại thì xe ô tô đi thêm khoảng 30m mới dừng lại hoàn toàn ở phía bên phải theo chiều đi ra đường Q (đường tránh V). Sau đó, B mở cửa xe đi xuống quan sát thấy xe mô tô đã nằm dưới gầm bên phải bánh sau xe ô tô, còn anh H và chị P bị thương nằm trên mặt đường cách đuôi xe ô tô khoảng 02m. Anh H và chị P được đưa đến Bệnh viên Đa khoa V2 cấp cứu đến khoảng 18 giờ 35 phút ngày 09/8/2024 anh H tử vong tại Bệnh viện còn chị P bị thương được chuyển đến điều trị tại Bệnh viện Q đến ngày 26/8/2025 thì chuyển Bệnh viện B2, ngày 12/9/2025 xuất viện; xe mô tô và xe ô tô hư hỏng nhẹ.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ: Các mảnh nhựa, thiết bị của xe mô tô rơi vỡ trên mặt đường; 01 mũ bảo hiểm xe mô tô màu trắng; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Exciter, biển số xe 19L1 – 321.88; xe ô tô tải, nhãn hiệu CNHTC, biển số xe: 29H- 346.16; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 380174001734 mang tên Trịnh Ngọc B. Ngày 09/8/2025, em gái của anh H đã giao nộp 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô; 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Phan Việt H và 01 mũ bảo hiểm xe mô tô.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại đường K kéo dài, đoạn đường thẳng, đường một chiều từ cầu B đi Quốc lộ B, bên phải là vỉa hè lát gạch, bên trái là dải phân cách cứng với chiều đường quốc lộ 2 đi cầu B và giao nhau với đường Đ. Phía trước ngã tư giao nhau theo hướng đi cầu Bắc Đầm V1 đi Quốc lộ B ở lòng đường có gờ giảm tốc độ, vạch sơn chỉ dẫn nơi người đi bộ qua đường, trên vỉa hè bên phải có dựng 01 biển báo giới hạn tốc độ tối đa cho phép 60km/h, bên trái gắn biển cảnh báo đi chậm, 01 biển báo giao nhau với đường không ưu tiên từ hai phía, 01 biển báo chỉ dẫn nơi người đi bộ sang ngang, trên dải phân cách cứng có gắn biển báo ngã tư hay xảy ra tai nạn. Lối thông tại ngã tư giao nhau rộng 42,3m, lối mở vào đường Đ, bên phải rộng 18,5m; lối mở vào đường Đ, bên trái rộng 19,7m; ở hai đầu dải phân cách cứng lối thông có cắm biển báo đường một chiều; đầu lối mở vào đường Đ bên trái có vạch sơn trắng ngang đường, hai bên vỉa hè dựng biển báo người đi bộ sang ngang, lề đường bên phải theo hướng đi ra ngã tư giao nhau có dựng biển báo ngã tư hay xảy ra tai nạn, biển báo giới hạn tốc độ tối đa cho phép là 50km/h, bên trên gắn biển cảnh báo đi chậm, biển cảnh báo giao nhau với đường ưu tiên. Giáp ngã tư phía sau có vạch sơn ngang đường, trên vỉa hè hai bên có dựng biển báo nơi người đi bộ sang ngang. Lòng đường thuộc chiều đường cầu B đi Quốc lộ B dốc thoải về mép đường bên phải, lòng đường có vạch sơn trắng đứt đoạn chia làm hai phần đường rộng 11,2m. Đây là đoạn đường thẳng không có vật cản che khuất, hai bên vỉa hè có trồng một số cây. Ngoài ra, còn ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết tại hiện trường; mô tả theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.

* Kết quả khám phương tiện:

Khám xe mô tô biển số xe 19L1- 321.88 loại xe Yamaha Exciter: Xe không có gương chiếu hậu. Đầu tay lái hai bên có nhiều vết trượt xước kim loại, cao su bám dính chất màu trắng, đầu tay lái bên phải bị bung rời kim loại, vết trượt xước cao su kích thước (0,03 x 0,02)m, điểm thấp nhất cách mặt đất 1,02m. Đầu tay lái bên trái vết trượt xước kim loại, cao su có kích thước (0,05 x 0,02)m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,89m. Đầu xe bị lệch so với khung tay lái về phía bên phải so với khung tay lái, mặt nạ đầu xe bị bung bật một số gờ hãm không chắc chắn. Gác bên trái mặt ngoài nắp trước tay lái có nhiều vết trượt xước nhựa bám dính đất kích thước (0,11 x 0,06)m, điểm thấp nhất cao cách mặt đất là 0,9m. Càng bánh trước bên phải bị cong kim loại ở phía trên, phía dưới bị vỡ, bung kim loại ở phần khung bên ngoài làm cho bánh xe bị xoay lệch về phía bên phải, ép sát vào càng bên trái và không di chuyển được. Toàn bộ ốp sườn xe bên trái có vết vỡ mất nhựa, phần còn lại bị bung bật nhiều gờ hãm, mặt ngoài có nhiều vết trượt xước nhựa rải rác từ góc bên trái mặt nạ đầu xe đến phía sau đuôi xe theo chiều hướng từ trên xuống dưới. Mặt ngoài lốc máy bên trái, mặt ngoài khung kim loại ở giữa xích xe có nhiều vết trượt xước kim loại bám dính chất màu trắng, tất cả trên diện (0,85 x 0,1)m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,23m. Bàn để chân bên trái người ngồi lái, cần đạp số bị cong vênh theo chiều hướng từ trái sang phải, mặt ngoài có nhiều vết trượt xước kim loại. Bàn để chân bên phải người ngồi lái bị gãy rời khỏi xe. Mặt ngoài ống xả có nhiều vết trượt xước, móp méo kim loại theo chiều hướng từ phải qua trái, từ dưới lên trên. Ngoài ra không phát hiện dấu vết gì khác. Hệ thống đèn, còi, điện không kiểm tra được, hệ thống lái mất tác dụng do hư hỏng sau tai nạn.

Khám xe ô tô biển số xe 29H- 346.16: Mặt ngoài góc bên trái ba đờ sốc đầu xe có nhiều vết trượt xước kim loại làm mất sơn theo chiều hướng từ trên xuống dưới, bề mặt vết bám dính nhiều đám chất màu đen kích thước (0,21 x 0,1)m, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 0,46m, điểm gần nhất cách mép bên trái ba đờ sốc đầu xe 0,14m. Mặt ngoài ba đờ sốc đầu xe phía dưới tấm biển số có nhiều vết lõm, trượt xước kim loại làm mất sơn theo chiều hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới kích thước (0,03 x 0,02)m, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 0,5m, điểm gần nhất cách mép bên phải ba đờ sốc đầu xe là 1,11m. Mặt ngoài góc bên phải ba đờ sốc đầu xe có nhiều vết trượt xước kim loại làm mất sơn theo chiều hướng từ trái qua phải, bề mặt vết bám dính nhiều đám chất màu đen, kích thước (0,3 x 0,07)m, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 0,47m, điểm gần nhất trùng với mép bên phải ba đờ sốc. Mặt ngoài bên dưới phía trước của 02 lá nhíp phía trên bên phải trục bánh trước có nhiều vết trượt xước kim loại bám dính nhiều đám chất màu đen theo chiều hướng từ trước về sau, kích thước (0,12 x 0,08)m, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 0,56m. Mặt phía dưới của 02 trục kim loại nối hai bánh trước ở phía bên phải có nhiều vết trượt xước kim loại, trượt mất bụi theo chiều hướng từ trước về sau, kích thước (0,5 x 0,22)m, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 0,29m, điểm gần nhất cách mặt trong lốp bánh trước bên phải 0,11m. Ngoài ra không phát hiện dấu vết gì khác. Hệ thống lái, đèn, còi, phanh hoạt động bình thường.

Kết quả trưng cầu giám định, định giá tài sản:

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 1531/KL - KTHS– PY ngày 27/8/2025, Trung tâm pháp Y tỉnh P kết luận: Trên tử thi toàn thân rải rác các vết sây sát bầm tím nhiều vị trí. Chảy nhiều máu không đông qua tai, mũi, miệng; niêm mạc mắt 02 bên nhợt. Gãy xương hàm trên, xương cổ không vững. Cân cơ dưới da vùng cổ, thành khí quản không có máu tụ, lòng khí quản bít lấp nhiều máu không đông. Nguyên nhân tử vong của tử thi Phan Việt H do đa chấn thương.

Kết quả xác minh thương tích của chị Bùi Mai P tại Bệnh viện Q và Bệnh viện B2 xác định: Vết thương vùng đùi bẹn hai bên, vùng hạ sườn phải xây xát. Gãy mỏm ngang L1, L2 bên trái. Gãy bong manh xương cánh chậu bên phải, gãy cánh xương cùng bên phải, trật khớp cùng- chậu phải ra trước. Gãy xương chậu- mu, ngồi mu bên trái.

Ngày 01/10/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số A5369 yêu cầu Trung tâm Pháp y tỉnh P giám định thương tích đối với chị Bùi Mai P. Cơ quan điều tra đã ra các Quyết định dẫn giải và tiến hành dẫn giải chị P (06 lần) đến Trung tâm Pháp y tỉnh P để giám định thương tích. Tuy nhiên, chị P không chấp hành, cương quyết từ chối giám định thương tích và có đơn từ chối giám giám định thương tích, đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trịnh Ngọc B. Do vậy, Trung tâm Pháp y tỉnh P không có căn cứ để xác định thương tích đối với chị P và hoàn trả toàn bộ hồ sơ giám định cho Cơ quan điều tra.

Ngày 09/10/2025, Phòng K Công an tỉnh P có các Bản kết luận giám định số: 2466, 2467/KL-KTHS kết luận: Không phát hiện thành phần chất ma túy thường gặp (Heroin, Morphine, MDMA, Methamphetamine, Ketamine, 2C – B, TFMPP) trong mẫu máu thu của Trịnh Ngọc B; Không phát hiện thấy có cồn (E) trong mẫu máu thu của Trịnh Ngọc B gửi giám định.

Ngày 03/4/2026, Phòng K Công an tỉnh P có các Bản kết luận giám định số: 1748, 1747/KL-KTHS kết luận: Không phát hiện thành phần chất ma túy thường gặp (Heroin, Morphine, MDMA, Methamphetamine, Ketamine, 2C – B, TFMPP) trong mẫu máu thu của Phan Việt H; Không phát hiện thấy có cồn (E) trong mẫu máu thu của Phan Việt H gửi giám định”.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 58/KL – HĐĐGTS ngày 31/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự phường V kết luận: Trị giá thiệt hại sửa chữa ba đờ sốc phía trước của xe ô tô, biển số xe: 29H – 346.16 là 1.000.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 57/KL – HĐĐGTS ngày 31/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự phường V kết luận: Tổng trị giá thiệt hại sửa chữa xe mô tô, biển số xe: 19L1 – 321.88 là 3.370.000 đồng.

Ngày 15/10/2025, Phòng C Công an tỉnh P có văn bản trả lời về việc Trịnh Ngọc B có giấy phép lái xe hạng C, số 380174001734, ngày cấp 01/6/2023, ngày hết hạn 01/6/2028. Còn Phan Việt H có giấy phép lái xe hạng A1, số 250209016878, ngày cấp 19/11/2020.

Đối với Phan Việt H có hành vi điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi chuyển hướng xe chạy và khi đi qua khu vực đường bộ giao nhau đã vi phạm quy định tại điểm c, d khoản 3, Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ và là một nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông nêu trên. Tuy nhiên, chị P cương quyết từ chối giám định thương tích nên không thể xác định được tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với chị P, thiệt hại về tài sản không lớn và H đã tử vong sau vụ tai nạn trên nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, B đã tự nguyện bồi thường cho đại diện theo ủy quyền là ông Phan Hữu V (là bố đẻ của anh H) tổng số tiền 230.000.000 đồng, bao gồm chi phí mai táng 30.000.000 đồng, bồi thường tổn thất tinh thần và thiệt hại xe mô tô là 200.000.000 đồng; Bồi thường cho chị P số tiền 90.000.000 đồng bao gồm: chi phí cấp cứu chữa bệnh: 15.000.000 đồng, bồi thường tổn hại sức khỏe 30.000.000 đồng, bồi thường tổn thất tinh thần 15.000.000 đồng, mất thu nhập do nằm viện 15.000.000 đồng, tiền công người chăm sóc khi nằm viện 15.000.000 đồng. Ông V và chị P đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu B phải bồi thường thêm khoản tiền gì.

Đối với xe ô tô, biển số xe: 29H – 346.16: xe ô tô do vụ tai nạn giao thông gây ra thiệt hại là 1.000.000 đồng, ông Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Còn đối với xe mô tô, biển số xe 19L1 – 321.88 thiệt hại số tiền là 3.370.000 đồng, ông Phan Hữu V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu phải bồi thường.

Quá trình điều tra, lời khai của bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và bị đơn dân sự phù hợp các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số: 160/CT-VKSKV9 ngày 28/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú thọ đã truy tố Trịnh Ngọc B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo cũng phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc B phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1,2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt B từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Giao bị cáo B cho Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục.

Về bồi thường dân sự: Quá trình điều tra người đại diện hợp pháp của bị hại đã bồi thường xong, không ai có yêu cầu gì khác nên không giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về tang vật: Trả lại 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và 01 giấy đăng ký xe mô tô đều đứng tên Phan Việt H cho gia đình anh H. Trả lại 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên Trịnh Ngọc B nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với Cáo trạng và quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ. Bị cáo thấy mình có tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội của bị cáo là do lỗi vô ý, đã khắc phục hậu quả, bị cáo là lao động chính trong gia đình mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/8/2025, Trịnh Ngọc B đã có giấy phép lái xe ô tô hạng C điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu CNHTC, biển số xe 29H-346.16 đi theo hướng đường K kéo dài để đi ra đường Q (đường tránh V). Khi đi đến ngã tư giao cắt giữa đường Đ và đường K kéo dài thuộc tổ dân phố R, phường V, tỉnh Phú Thọ, B không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi đi qua khu vực đường bộ giao nhau nên đã đâm vào xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter biển số xe 19L1- 321.88 do anh Phan Việt H điều khiển chở phía sau là chị Bùi Mai P đi trên đường Đ vào ngã tư và chuyển hướng rẽ trái vào đường K kéo dài (hướng đi Quốc lộ B) đang di chuyển ở phía trước đầu xe ô tô của B. Hậu quả: Anh H tử vong, chị P bị thương nhưng từ chối giám định thương tích, xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng nhẹ. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 4.370.000 đồng.

Hành vi của bị cáo B đã vi phạm vào điểm d khoản 3 Điều 12 của Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Điều luật quy định:

Khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ quy định:

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn trong các trường hợp sau đây:

…

d, Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ”;

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại về tính mạng của bị hại H. Bị cáo điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đi qua ngã tư nên đã để tai nạn xảy ra mà nguyên nhân chủ yếu do ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tích cực bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại; bị hại chị Bùi Mai P cũng có đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội và được tặng thưởng Giấy khen; gia đình có bà ngoại là người có công trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bản thân bị cáo cũng được chính quyền địa phương nơi đang sinh sống xác nhận là tổ viên thuộc Tổ an ninh trật tự thôn, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không vi phạm pháp luật và hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình có nhiều khó khăn. Ngoài ra, trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi là những căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự quản lý của chính quyền địa phương nơi cư trú như đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hành nghề lái xe nên cần cấm bị cáo trong một thời gian nhất định để răn đe và phòng ngừa chung.

Về bồi thường dân sự:

Quá trình điều tra, bị cáo B đã tự nguyện bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của bị hại H (ông V) tổng số tiền 230.000.000 đồng, bao gồm: chi phí mai táng, bồi thường tổn thất tinh thần và thiệt hại xe mô tô. Bị cáo B cũng đã bồi thường cho bị hại chị Bùi Mai P số tiền 90.000.000 đồng, bao gồm: chi phí cấp cứu chữa bệnh, bồi thường tổn hại sức khỏe và tổn thất tinh thần, tiền mất thu nhập do nằm viện, tiền công người chăm sóc khi nằm viện. Ông V và chị P đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền gì nên không xem xét.

Đối với xe ô tô biển số xe 29H – 346.16, ông Đ đã nhận lại tài sản và xe mô tô biển số xe 19L1 – 321.88, ông V đã nhận lại tài sản, không ai có yêu cầu phải bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, BKS 19L1 - 321.88 đều đứng tên Phan Việt H, quá trình điều tra xác định là giấy tờ của anh H nên trả lại cho người đại diện theo ủy quyền của gia đình anh H (ông V).

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên Trịnh Ngọc B, là giấy tờ cá nhân của bị cáo B nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Ngọc B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1,2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc B 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trịnh Ngọc B cho Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo Trịnh Ngọc B trong thời gian là 01 (Một) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Trả lại 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, biển số xe 19L1 - 321.88 đều đứng tên Phan Việt H cho ông Phan Hữu V.

Trả lại 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C đứng tên Trịnh Ngọc B cho bị cáo Trịnh Ngọc B.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản về việc vật chứng, tài sản ngày 29/4/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Phú Thọ).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trịnh Ngọc B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và bị đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Huy Toàn Nguyễn Thế Khải

Nguyễn Thị Thanh Hoài Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Phú Thọ;

- VKSND khu vực 9 – Phú Thọ;

- Cơ quan CSĐT – CA tỉnh Phú Thọ;

- Thi hành án hình sự;

- Thi hành án dân sự;

- UBND xã Yên Định, tỉnh Thanh Hóa;

- Bị cáo;

Nguyễn Thị Thanh Hoài

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Kim Dung Bùi Thị Thu Hằng

Nguyễn Thị Thanh Hoài Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Phú Thọ;

- VKSND khu vực 9 – Phú Thọ;

- Cơ quan CSĐT – CA tỉnh Phú Thọ;

- Thi hành án hình sự;

- Thi hành án dân sự;

- UBND phường Vĩnh Phúc;

- Bị cáo;

Nguyễn Thị Thanh Hoài

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hoài Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Phú Thọ;

- VKSND khu vực 9 – Phú Thọ;

- Công an;

- Thi hành án khu vực 9 – Phú Thọ;

- Thi hành án hình sự;

- Trại tạm giam số 02 Phú Thọ;

- UBND xã Vĩnh Hưng

Nguyễn Thị Thanh Hoài

- Các bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Dũng Bùi Thanh Bình

Nguyễn Thị Thanh Hoài Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

- VKSND thành phố Vĩnh Yên;

- Công an thành phố Vĩnh Yên;

- Chi cục thi hành án Vĩnh Yên;

- Thi hành án hình sự;

- UBND phường Liên Bảo và UBND xã An Khang; TP Tuyên Quang.

Nguyễn Thị Thanh Hoài

- Các bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hoài Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

- VKSND thành phố Vĩnh Yên;

- Công an thành phố Vĩnh Yên;

- Chi cục thi hành án Vĩnh Yên;

- Thi hành án hình sự;

- UBND xã An Tường, huyện Vĩnh Tường;

- Bị cáo;

Nguyễn Thị Thanh Hoài

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Mai Vũ Thị Kim Dung

Nguyễn Thị Thanh Hoài Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

- VKSND thành phố Vĩnh Yên;

- Công an thành phố Vĩnh Yên;

- Chi cục thi hành án Vĩnh Yên;

- Thi hành án hình sự;

- UBND phường Tích Sơn; Bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng;

Nguyễn Thị Thanh Hoài

- Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Mai Vũ Thị Kim Dung

Nguyễn Thị Thanh Hoài Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

- VKSND thành phố Vĩnh Yên;

- Công an thành phố Vĩnh Yên;

- Chi cục thi hành án Vĩnh Yên;

- Thi hành án hình sự;

- UBND phường Minh Phương, Việt Trì, Phú Thọ; Các bị cáo; người bào chữa;

Nguyễn Thị Thanh Hoài

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ