vanban.org

Bản án 125/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 08/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Triệu Văn D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt: Triệu Văn D: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 08/7/2026. Giao bị cáo Triệu Văn D về Ủy ban nhân dân phường H, TP Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn D - Buôn bán hàng cấm - sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Triệu Văn D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2026/HS-ST
Ngày: 08-7-2026
s

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- ĐÀ NẴNG, TP. ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Cương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Hùng Đạt

Ông Nguyễn Phạm Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4-Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2026/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1036/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:

Triệu Văn D, sinh ngày 14/8/1991 tại tỉnh Lạng Sơn; giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã B, tỉnh Lạng Sơn; Nơi ở hiện nay: K đường N, phường H, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: 020091007755 cấp ngày 26/9/2022; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ giáo dục phổ thông: 09/12; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Văn Đ và bà Hoàng Thị L (cả 2 đều còn sống); Có vợ là: Võ Thị L1 có 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long; Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Hoàng L3, sinh năm 1999; Địa chỉ: ẤP T, xã V, tỉnh Vĩnh Long; Vắng mặt.

+ Ông Hồ Văn Đ1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 02/2026, thời điểm cận Tết Nguyên Đán năm 2026 nhu cầu mua pháo nổ (Pháo hoa nổ) nhiều nên Triệu Văn D đã nảy sinh ý định mua pháo nổ (Pháo hoa nổ) về để bán lại kiếm lời. Ngày 06/02/2026, Triệu Văn D sử dụng tại khoản Facebook tên “Duy Triệu” của D truy cập vào các hội nhóm mua bán pháo và liên hệ với 01 tài khoản Facebook ẩn danh (không rõ lai lịch) thỏa thuận mua 09 hộp pháo loại 49 ống với giá 9.000.000 đồng (1.000.000 đồng/hộp) và hẹn giao hàng tại nhà của D ở K N , phường H, thành phố Đà Nẵng. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, người bán mang 01 thùng carton có chữ “Mì ăn liền Thiên Hương” giao trước nhà D tại đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng. Duy kiểm tra đủ số lượng mà D đã thỏa thuận mua trước đó và đưa 9.000.000 đồng tiền mặt cho người này. Do người giao hàng đeo khẩu trang nên D không xác định được đặc điểm nhận dạng và không nhớ rõ biển số xe mà người này đã điều khiển đến giao hàng. Đến sáng ngày 07/02/2026, D tiếp tục sử dụng Facebook cá nhân để tìm người mua. Qua đó, D liên hệ với một tài khoản Facebook ẩn danh khác, rồi D cung cấp số điện thoại 0379026291 của D để liên lạc với người này qua zalo. Sau đó, người mua kết bạn với D qua tài khoản zalo tên “Bin”, hai bên thỏa thuận mua bán 09 hộp pháo với tổng số tiền 10.800.000 đồng (1.200.000 đồng/hộp) và hẹn giao dịch tại khu vực cầu N, phường H, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 20 giờ 45 phút ngày 07/02/2026, D điều khiển xe mô tô gắn BKS 92X1-019.47 chở thùng carton chứa 09 hộp pháo đi giao cho “Bin”. Khi D điều khiển phương tiện đến tại K đường N, phường H, TP . thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra, Triệu Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thư giữa:

- 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu trắng – xanh, số máy 55P1229649, số khung RLCE55P10DY229624, gắn BKS 92X1-019.47.

- 09 hộp nghi pháo nổ (D khai là pháo hoa nổ), trong đó: 02 hộp ký hiệu “GD4049C”, 01 hộp ký hiệu “T4049”, 06 hộp ký hiệu “ks4-4911x, đều có chữ nước ngoài).

- 01 điện thoại di động X 13, màu đen, có số seri 52938/03ZP 10182 (không gắn sim điện thoại) đang được niêm phong theo quy định.

Theo bản Kết luận giám định số 296/KL-KTHS ngày 26/02/2026 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, xác định 09 hộp khối thu giữ của Triệu Văn D nêu trên đều là pháo nổ (dạng pháo hoa nổ), tổng khối lượng là 14,5 kilôgam.

Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS-KV4 ngày 18/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Triệu Văn D về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025).

Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự là đúng tội, không oan. Bị cáo đã nhận thấy sai trái, ăn năn hối cải, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện lao động, chăm sóc gia đình, nuôi dưỡng, chăm sóc con nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Triệu Văn D về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Triệu Văn D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”;

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025);

Xử phạt bị cáo Triệu Văn D mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 3 năm đến 4 năm, giao bị cáo về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với mẫu còn lại sau giám định gồm: phần còn lại của 09 khối hộp pháo còn lại sau giám định bỏ trong 01 thùng giấy được dán kín, niêm phong bằng giấy niêm phong, trên giấy có hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng, chữ ký tên của Nguyễn Đình H và Nguyễn Anh Q. Vật chứng đã được chuyển đến Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đ tạm thời quản lý. Đây là hàng cấm nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động X 13, màu đen, có số seri 52938/03ZP 10182 (không gắn sim điện thoại), đây là tài sản bị cáo Triệu Văn D sử dụng vào việc trao đổi, liên hệ mua bán pháo nổ. Là tài sản dùng vào việc phạm tội đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng, số máy 55P1229649, số khung RLCE55P10DY229624, (gắn BKS 92X1-019.47): Qua điều tra xác định nguồn gốc xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng có số máy 55P1229649, số khung RLCE55P10DY229624, chủ xe là ông Nguyễn Văn L2. Ngày 06/9/2022, ông Nguyễn Hoàng L3 đã điều khiển phương tiện trên và bị Đội CSGT, TT- Công an thị xã B (cũ) đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Hoàng L3 về hành vi: điều khiển xe mô tô hai bánh không có gương chiếu hậu bên trái người điều khiển, không có giấy phép lái xe, tự ý thay đổi đặc tính xe. Đồng thời, Đội CSGT, TT- Công an thị xã B (cũ) cũng lập biên bản tạm giữ, ra quyết định tạm giữ phương tiện và lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn L2 về hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện. Đến ngày 12/9/2022, Công an xã B đã bàn hành các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Hoàng L3, ông Nguyễn Văn L2. Thế nhưng, ông Nguyễn Hoàng L3 không thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên ngày 10/7/2024, Công an thị xã B đã ra Quyết định tịch thu phương tiện vi phạm hành chính theo Quyết định số 16.0381/QĐ-TT. Tháng 2/2025, Công an thị xã B đã tiến hành xử lý phương tiện trên với hình thức bán dạng phế liệu. Đến tháng 7/2025, khi Triệu Văn D hành nghề lái xe tải vào huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, đã mua lại xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng trên ở bãi mua bán xe máy cũ trong điểm mua bán phế liệu với giá 6.000.000 đồng đưa về Đà Nẵng sửa chữa lại để làm phương tiện đi lại. Như vậy, Triệu Văn D là chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe mô tô này, bị cáo sử dụng xe mô tô này vào việc phạm tội, do đó đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với biển số xe 92X1-019.47 gắn trên xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng thu giữ của Triệu Văn D. Qua điều tra xác định: Biển số xe 92X1-019.47 do ông Hồ Văn Đ1 đứng tên đăng ký xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius F1, màu sơn đỏ đen; số máy E3T6E258453, số khung RLCUE1710HY178108. Trong quá trình sử dụng xe bị hư hỏng nên khoảng cuối năm 2019, ông Đ1 đã bán xe máy này cho cửa hàng P tại thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ) với giá 1.000.000 đồng (việc mua bán chỉ thỏa thuận miệng). Sau đó, Triệu Văn D đã tìm nhặt biển số xe 92X1-019.47 tại bãi phế liệu ở thành phố Đà Nẵng (D không nhớ rõ địa chỉ cụ thể bãi phế liệu này), gắn lên xe Yamaha Exciter màu xanh trắng, số máy 55P1229649, số khung RLCE55P10DY229624 để làm phương tiện đi lại. Đối với biển số xe 92X1-019.47 này cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội phạm của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Triệu Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong suốt quá trình điều tra, truy tố cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Vào ngày 06/02/2026, thông qua mạng xã hội Facebook, Triệu Văn D đã liện hệ mua 09 hộp pháo nổ (dạng pháo hoa nổ) với giá 9.000.000 đồng (1.000.000 đồng/hộp) với mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời. Đến khoảng 20 giờ 45 phút ngày 07/02/2026, Triệu Văn D điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter (gắn BKS 92X1-019.47) chở thùng carton chứa 09 hộp pháo để đi bán cho người khác, khi D điều khiển phương tiện đến tại K đường N, phường H, TP . thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Theo bản Kết luận giám định số 296/KL-KTHS ngày 26/02/2026 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, xác định 09 hộp khối thu giữ của Triệu Văn D nêu trên đều là pháo nổ (dạng pháo hoa nổ), tổng khối lượng là 14,5 kilôgam.

Hành vi buôn bán 14,5 kilôgam pháo nổ của Triệu Văn D đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025) như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội của địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần xử phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hinh sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc Nùng; có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu.

Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương, các con đang còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo là người dân tộc Nùng, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hiện là lao động chính trong gia đình, có công việc ổn định, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, vừa có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng nhân đạo của pháo luật.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với mẫu còn lại sau giám định gồm: phần còn lại của 09 khối hộp pháo còn lại sau giám định bỏ trong 01 thùng giấy được dán kín, niêm phong bằng giấy niêm phong, trên giấy có hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng, chữ ký tên của Nguyễn Đình H và Nguyễn Anh Q. Vật chứng đã được chuyển đến Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đ tạm thời quản lý. Đây là hàng cấm cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động X 13, màu đen, có số seri 52938/03ZP 10182 (không gắn sim điện thoại), đây là tài sản bị cáo Triệu Văn D sử dụng vào việc trao đổi, liên hệ mua bán pháo nổ. Là tài sản dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng, số máy 55P1229649, số khung RLCE55P10DY229624, (gắn BKS 92X1-019.47). Về nguồn gốc xe mô tô này do ông Nguyễn Văn L2 đứng tên chủ sở hữu, giao cho ông Nguyễn Hoàng L3 điều khiển vi phạm hành chính về lĩnh vực giao thông đường bộ nhưng và không thi hành quyết định xử phạt vi phạm. Đến Tháng 2/2025, Công an thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (cũ) đã tiến hành xử lý phương tiện xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng, số máy 55P1229649, số khung RLCE55P10DY229624 với hình thức bán dạng phế liệu. Đến tháng 7/2025, khi Triệu Văn D hành nghề lái xe tải vào huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, đã mua lại xe mô tô này tại điểm mua bán phế liệu với giá 6.000.000 đồng. D đưa về Đà Nẵng sửa chữa lại và gắn biển số xe 92X1-019.47 mà D nhặt được để làm phương tiện đi lại. Như vậy, Triệu Văn D là chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe mô tô này, bị cáo sử dụng xe mô tô này vào việc phạm tội, do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với biển số xe 92X1-019.47 gắn trên xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng thu giữ của Triệu Văn D. Qua điều tra xác định: Biển số xe 92X1-019.47 do ông Hồ Văn Đ1 đứng tên đăng ký xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius F1, màu sơn đỏ đen; số máy E3T6E258453, số khung RLCUE1710HY178108. Trong quá trình sử dụng xe bị hư hỏng nên khoảng cuối năm 2019, ông Đ1 đã bán xe máy này cho cửa hàng P tại thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ) với giá 1.000.000 đồng (việc mua bán chỉ thỏa thuận miệng). Sau đó, Triệu Văn D đã tìm nhặt biển số xe 92X1-019.47 tại bãi phế liệu ở thành phố Đà Nẵng (D không nhớ rõ địa chỉ cụ thể bãi phế liệu này), gắn lên xe Yamaha Exciter màu xanh trắng, số máy 55P1229649, số khung RLCE55P10DY229624 để làm phương tiện đi lại. Đối với biển số xe 92X1-019.47 này cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Triệu Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với đối tượng có tài khoản facebook ẩn danh bán pháo nổ cho D và đối tượng có tên tài khoản zalo “Bin” là người liên hệ mua pháo nổ của D, do chưa xác định được các đối tượng này nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 190; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).

Tuyên bố bị cáo Triệu Văn D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt: Triệu Văn D: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 08/7/2026.

Giao bị cáo Triệu Văn D về Ủy ban nhân dân phường H, TP Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: mẫu còn lại sau giám định gồm: phần còn lại của 09 khối hộp pháo còn lại sau giám định bỏ trong 01 thùng giấy được dán kín, niêm phong bằng giấy niêm phong, trên giấy có hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng, chữ ký tên của Nguyễn Đình H và Nguyễn Anh Q (Vật chứng này hiện Kho vũ khí – đạn thuộc Bộ chỉ hủy quân sự thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo bên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/6/2026).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 Biển số xe 92X1-019.47 (gắn trên xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng, số máy 55P1229649, số khung RLCE55P10DY229624).

- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước các vật chứng, tài sản gồm:

+ 01 điện thoại di động X 13, màu đen, có số sêri 52938/03ZP 10182 (không gắn sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong).

+ 01 xe mô tô hãn hiệu: Yamaha, số loại: Exciter; màu sơn: Xanh trắng; số máy 55P1229649; số khung RLCE55P10DY229624; Tình trạng xe: đã qua sử dụng. (Xe hiện không có biển số đã đăng ký và không có giấy chứng nhận đăng ký xe).

(Các vật chứng hiện Phòng thi hành án dân sự khu vực 4-Đà Nẵng đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/6/2026).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Triệu Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ