vanban.org

Bản án 125/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù t nh từ ngày 25/7/2024. [2] Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T bị truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 125/2025/HS-ST
Ngày 25/04/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc

2. Bà Nguyễn Phước Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký T a án nhân dân huy n Củ Chi Thành phố Hồ Ch Minh.

- Đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Ch Minh: Ông Ngô Tất Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Củ Chi, Thành phố Hồ Ch Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 76/2025/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên Nguyễn Hữu T, sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Ch Minh; Giới t nh Nam; Nơi đăng ký thường trú Số 02/9 ấp 17 (2/9 ấp 3 củ) xã Đ, huy n H, Thành phố Hồ Ch Minh; Chỗ ở Số 02/9 ấp 17 (2/9 ấp 3 củ) xã Đ huy n H, Thành phố Hồ Ch Minh; Quốc tịch Vi t Nam; Dân tộc Kinh; Tôn giáo Không; Trình độ học vấn 06/12; Nghề nghi p Làm thuê; Con ông Nguyễn Hữu H và bà Nguyễn Thị G (đã chết); Anh chị em ruột có 05 người kể cả bị cáo bị cáo chưa có v .

Tiền án: Ngày 23/11/2018, bị Tòa án nhân dân quận G Vấp Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2022 (chưa đư c xoá án t ch).

Tiền sự Không.

Nhân thân Ngày 02/11/2017 bị Ủy ban nhân dân phường Thới An Quận 12 Thành phố Hồ Ch Minh ra Quyết định số 514/QĐ-UBND đưa vào cơ sở xã hội Nhị Xuân để quản lý cắt cơn giải độc tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng bi n pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ sở cai nghi n bắt buộc. Ngày 08/02/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Thới An Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 63/QĐ-UBND về vi c hủy bỏ quyết định số 514 ngày 02/11/2017 của UBND phường Thới An Quận 12, Thành phố Hồ Ch Minh.

- Người làm chứng:

1/ Bà Huỳnh Thị Kim L sinh năm 1995; Địa chỉ Số 355A đường TX14 phường T Quận X, Thành phố Hồ Ch Minh; (vắng mặt);

2/ Anh Nguyễn Thành T sinh năm 2005; Địa chỉ Ấp 19 xã B huy n C, Thành phố Hồ Ch Minh; (vắng mặt);

3/ Ông Nguyễn Văn H sinh năm 1993; Địa chỉ Ấp 6 xã B huy n C, Thành phố Hồ Ch Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 25/07/2024, Công an xã Bình Mỹ, huy n Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính nhà nghỉ Phương A thuộc ấp 6, xã B, huy n C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi kiểm tra đến phòng Vip 5 do Nguyễn Hữu T thuê ở cùng với chị Huỳnh Thị Kim L thì phát hi n trong hộc tủ kế bên giường ngủ của T có 21 gói nylon chứa ma túy đá 01 Đi n thoại di động hi u Redmi Note 11 Pro 5G màu xanh đã qua sử dụng, 01 cân tiểu ly đi n tử màu xám hi u Amput đã qua sử dụng và 13 túi nylon đư c viền kín mi ng túi. Qua làm vi c, T thừa nhận 21 gói nylon chứa ma túy, T mua để sử dụng và bán kiếm lời nhưng chưa bán đư c thì bị phát hi n.

Nguyễn Hữu T bắt đầu bán trái phép chất ma túy vào khoảng tháng 5/2024. T liên lạc qua ứng dụng Telegram có tên Too Me, số đi n thoại 0776480711 để mua ma túy đá của 01 người tên B (không rõ lai lịch). Mỗi lần B giao ma túy tại khu vực C, huy n H. Sau khi mua đư c ma túy, T phân nhỏ và sử dụng số đi n thoại 0967498506 để cho các con nghi n liên lạc mua bán ma túy. Toàn mua ma túy của B về bán lại đư c 03 lần. T giao ma túy và nhận tiền trực tiếp từ người mua. Mỗi lần bán từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. T thường bán cho người nghi n ở khu vực Quận 12 và huy n Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 25/7/2024, T cùng Huỳnh Thị Kim L thuê phòng Vip 5 nhà nghỉ Phương A để ở qua đêm thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.

Cơ quan CSĐT Công an huy n Củ Chi đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hữu Toàn không thu giữ gì.

Kết quả xét nghi m ma túy đối với Nguyễn Hữu T là dương tính Methamphetamine, đối với Huỳnh Thị Kim L là âm tính.

Vật chứng thu giữ của bị cáo:

- 21 gói nylon bên trong chứa tinh thể đư c niêm phong trong 01 gói mang số vụ 2714/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên. Đây là ma túy loại do Toàn mua để sử dụng và bán lại.

- 01 Đi n thoại di động hi u Redmi Note 11 Pro 5G, màu xanh, Imei1: 860677061451443, Imei2: 860677061451450 đã qua sử dụng.

- 01 cân tiểu ly đi n tử hi u Amput đã qua sử dụng.

- 13 túi nylon đư c viền kín mi ng túi.

Cơ quan CSĐT Công an huy n Củ Chi đã làm vi c, tiến hành đối chất giữa T và L vi c mua bán ma túy: T khai không nói cho L biết vi c mua bán ma túy và L không biết T có bán ma túy.

Kết luận giám định số 8904/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Ph ng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Ch Minh giám định chất ma túy (BL 82)

- 20 gói chứa tinh thể có tổng khối lư ng 21 4303g là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine

- 01 gói chứa tinh thể có khối lư ng 0 9804g là ma túy ở thể rắn loại Ketamine

Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKS-CC ngày 24/02/2025 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi đã truy tố Nguyễn Hữu T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên T a đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng điểm p q khoản 2 Điều 251 điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và đề nghị xử phạt Nguyễn Hữu T từ 11 (mười một) đến 12 (mười hai) năm tù.

Về vật chứng vụ án:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 21 gói nylon bên trong chứa tinh thể đư c niêm phong trong 01 gói mang số vụ 2714/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 13 túi nylon đư c viền kín mi ng túi.

- Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 Đi n thoại di động hi u Redmi Note 11 Pro 5G, màu xanh, Imei1: 860677061451443, Imei2: 860677061451450 đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly đi n tử hi u Amput đã qua sử dụng.

Tại phiên T a bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận thu l i bất ch nh từ vi c mua bán trái phép chất ma tuý là 700.000 đồng.

Bị cáo nói lời nói sau cùng là xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm tra xét hỏi tranh luận tại phiên t a Hội đồng xét xử nhận thấy như sau

Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n Củ Chi Điều tra viên Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều h p pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng.

Tại phiên t a, bị cáo Nguyễn Hữu T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên t a phù h p với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài li u chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 25/07/2024, Công an xã Bình Mỹ kiểm tra hành chính nhà nghỉ Phương A thuộc ấp 6, xã B, huy n C, Thành phố Hồ Chí Minh, khi kiểm tra đến phòng Vip 5 do Nguyễn Hữu T thuê ở thì phát hi n bắt quả tang T tàng trữ trái phép 21 4303g là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine và 0 9804g là ma túy ở thể rắn loại Ketamine nhằm mục đ ch để sử dụng và bán trái phép cho người khác.

Tại Bản kết luận giám định số 8904/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Ph ng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Ch Minh giám định chất ma túy 20 gói chứa tinh thể có tổng khối lư ng 21 4303g là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine; 01 gói chứa tinh thể có khối lư ng 0 9804g là ma túy ở thể rắn loại Ketamine.

Bị cáo có 01 tiền án về tội “rất nghiêm trọng” chưa đư c xoá án t ch nên thuộc trường h p “tái phạm nguy hiểm” theo q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Bằng hành vi trên Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt đư c quy định tại điểm i, p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về t nh chất mức độ của hành vi phạm tội.

Ma túy là chất gây nghi n khi sử dụng vào cơ thể sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe t nh mạng của con người nên Nhà nước có ch nh sách quản lý độc quyền và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ sử dụng mua bán chất ma tuý và chế phẩm ma tuý. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhi m hình sự bị cáo nhận thức r vi c mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì bản thân sử dụng chất ma túy vì mục đ ch l i nhuận mong muốn có tiền để sử dụng chất ma túy mà vi phạm pháp luật.

Bị cáo đã thực hi n hành vi phạm tội cố ý bất chấp mọi hậu quả kể cả sự trừng trị của pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã không những đã trực tiếp xâm hại đến ch nh sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy mà c n gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Xét t nh chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nghĩ cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm phù h p mới đủ tác dụng giáo dục riêng và ph ng ngừa chung. Tuy nhiên khi lư ng hình cần xem xét đến nhân thân các tình tiết tăng nặng giảm nh trách nhi m hình sự để có mức hình phạt phù h p.

[4 Về tình tiết tăng nặng và giảm nh trách nhi m hình sự

Về tình tiết tặng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nh Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5 Về nhân thân: Bị cáo là người nghi n ma tuý ngày 02/11/2017 bị Ủy ban nhân dân phường Thới An Quận 12 Thành phố Hồ Ch Minh ra Quyết định số 514/QĐ-UBND đưa vào cơ sở xã hội Nhị Xuân để quản lý cắt cơn giải độc tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng bi n pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ sở cai nghi n bắt buộc. Sau đó ngày 08/02/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Thới An ra Quyết định số 63/QĐ-UBND về vi c hủy bỏ quyết định số 514 ngày 02/11/2017 do bị cáo có nơi cư trú ổn định.

[6 Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo là người nghi n ma túy nghề nghi p không ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù h p.

Về khoản thu l i bất ch nh từ vi c phạm tội theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự

Bị cáo khai bán ma tuý cho các đối tư ng thu l i bất ch nh số tiền 700.000 đồng; xét cần buộc bị cáo nộp số tiền thu l i bất ch nh là 700.000 đồng vào ngân sách nhà nước là phù h p.

[8 Về xử lý vật chứng trong vụ án

- Đối với: 01 gói niêm phong mang số vụ 2714/24 có chữ ký niêm phong của bị cáo Cán bộ điều tra và Giám định viên; 13 túi nylon đư c viền kín mi ng túi; Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với: 01 Đi n thoại di động hi u Redmi Note 11 Pro 5G, màu xanh, Imei1: 860677061451443, Imei2: 860677061451450 đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly đi n tử hi u Amput đã qua sử dụng; là công cụ phương ti n bị cáo thực hi n hành vi phạm tội; Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với Huỳnh Thị Kim L ở chung ph ng với bị cáo L không biết bị cáo có tàng trữ và mua bán trái phép chất ma tuý do đó chưa đủ căn cứ xử lý trách nhi m hình sự đối với L; Hội đồng xét xử xét thấy phù h p.

Đối với đối tư ng B (không r lai lịch) là người bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra hi n chưa xác định đư c nhân thân lai lịch nên chưa tri u tập làm vi c đư c. Cơ quan CSĐT Công an huy n Củ Chi sẽ tiếp tục xác minh làm r xử lý sau; Hội đồng xét xử xét thấy phù h p.

Xét cần buộc các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i, p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã đư c sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù t nh từ ngày 25/7/2024.

[2] Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 2714/24 có chữ ký niêm phong của bị cáo Cán bộ điều tra và Giám định viên; 13 túi nylon đư c viền kín mi ng túi.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 Đi n thoại di động hi u Redmi Note 11 Pro 5G, màu xanh, Imei1: 860677061451443, Imei2: 860677061451450 đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly đi n tử hi u Amput đã qua sử dụng.

(Các vật chứng nêu trên đư c li t kê theo L nh nhập kho vật chứng số 1230/LNK-ĐTTH ngày 26/08/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số 239/PNK-ĐTTH ngày 19/09/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huy n Củ Chi).

[3] Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã đư c sửa đổi bổ sung năm 2017); Buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu l i bất ch nh là 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng). Thi hành ngay khi bản án có hi u lực pháp luật.

[4] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Luật ph và L ph số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án ph hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo đư c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ