vanban.org

Bản án 125/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị M. Bà Bùi Thị M được ly hôn với ông Phan Chí C.

Về nuôi con chung: Giao cho bà Bùi Thị M nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Phan Thị Yến N, sinh ngày 11/10/2015 (nữ). Ông Phan Chí C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai - Cường"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị M. Bà Bùi Thị M được ly hôn với ông Phan Chí C.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2025/HNGĐ-ST
Ngày 10-9-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tạo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Nguyễn Văn Sol

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil - Là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 63/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị M, sinh năm 1995 (xin vắng mặt).

Cư trú tại: Thôn B, xã T, tỉnh Quảng Trị.

- Bị đơn: Ông Phan Chí C, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp L, xã H, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 7 năm 2025 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện, nguyên đơn bà Bùi Thị M trình bày yêu cầu:

- Về hôn nhân: Được sự thống nhất của hai gia đình nên tôi và ông Phan Chí C kết hôn với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào năm 2015. Khi mới kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến tháng 6 năm 2016 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do trong lúc con còn nhỏ chồng cờ bạc, rượu chè, sống không chung thuỷ, tôi có khuyên chồng tôi nhưng chồng tôi không nghe mà còn đánh đập tôi nhiều lần, nhưng vì con còn quá nhỏ nên tôi cố gắng bỏ qua cho chồng tôi hi vọng sẽ sửa đổi nhưng chồng tôi vẫn tánh nào tật nấy không lo làm ăn, không chăm lo cho vợ con, thường hay đi nhậu với bạn bè rồi vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau, dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng nên tôi đã ẩm con về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 6 năm 2016 cho đến nay. Trong khoảng thời gian không sống chung này chồng tôi không một lần nào đến thăm con và cũng không quan tâm gì đến tôi. Xét thấy, hôn nhân không đạt được hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng nên tôi yêu cầu được ly hôn với chồng tôi là ông Phan Chí C.

- Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có 01 người con tên Phan Thị Yến N, sinh ngày 11/10/2015 (nữ), hiện con đang sống chung với tôi từ nhỏ cho đến nay. Khi ly hôn tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ thu và nợ trả: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Phan Chí C: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà ông C không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu xin ly hôn của bà M. Đồng thời, bà Bùi Thị M có đơn yêu cầu không hoà giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải, quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Bùi Thị M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, yêu cầu của đương sự phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Bị đơn ông Phan Chí C Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập xét xử hợp lệ lần 2 đối với ông C, nhưng ông C vẫn vắng mặt không lý do; Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Phan Chí C.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Bùi Thị M và ông Phan Chí C kết hôn với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào năm 2015 theo giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 04 tháng 5 năm 2015. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà Bùi Thị M và ông Phan Chí C được pháp luật công nhận là vợ chồng kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Xét thấy, bà Bùi Thị M xin ly hôn với ông Phan Chí C là vì trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do trong lúc con còn nhỏ chồng cờ bạc, rượu chè, sống không chung thuỷ, tôi có khuyên chồng tôi nhưng chồng tôi không nghe mà còn đánh đập tôi nhiều lần, nhưng vì con còn quá nhỏ nên tôi cố gắng bỏ qua cho chồng tôi hi vọng sẽ sửa đổi nhưng chồng tôi vẫn tánh nào tật nấy không lo làm ăn, không chăm lo cho vợ con, thường hay đi nhậu với bạn bè rồi vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau, dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng nên tôi đã ẩm con về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 6 năm 2016 cho đến nay. Về phía ông Phan Chí C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng ông C vẫn vắng mặt và cũng không có trình bày ý kiến gì của mình về yêu cầu xin ly hôn của bà M, từ đó cho thấy ông C cũng không có thiện chí mong muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân giữa bà M với ông C. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà M với ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M. Bà Bùi Thị M được ly hôn với ông Phan Chí C theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Bà Bùi Thị M xác định có 01 người con tên Phan Thị Yến N, sinh ngày 11/10/2015 (nữ), hiện con đang sống chung với bà M từ nhỏ cho đến nay. Khi ly hôn bà M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con. Xét thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình thì con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con, Tòa án đã làm việc trực tiếp với cháu Phan Thị Yến N thì cháu N có nguyện vọng sống chung với mẹ M nên Hội đồng xét xử tôn trọng nguyện vọng của cháu N. Do đó, giao 01 người con tên Phan Thị Yến N, sinh ngày 11/10/2015 (nữ) cho bà Bùi Thị M được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Ông Phan Chí C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Tuy nhiên, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung: Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), người khởi kiện yêu cầu ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án có chấp nhận hay không chấp chận cho ly hôn đều phải chịu án phí nên bà Bùi Thị M phải chịu nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị M. Bà Bùi Thị M được ly hôn với ông Phan Chí C.

2. Về nuôi con chung: Giao cho bà Bùi Thị M nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Phan Thị Yến N, sinh ngày 11/10/2015 (nữ).

Ông Phan Chí C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Bùi Thị M phải chịu nộp án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Bùi Thị M có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011950 ngày 28 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu, không phải nộp tiếp.

“Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ