- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Huy T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 125/2023/HSST Ngày: 16/6/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Định.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Việt Hà.
2. Ông Cao Đại Dƣơng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 143/2023/TLST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2023/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Huy T (Tên gọi khác: Không); Giới tính: N, sinh ngày 07/02/1977 tại tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Tổ dân phố I, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12 phổ thông; con ông Cao Văn L và bà Nguyễn Thị X; vợ: Lù Thị B và có một người con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cao Huy T là người nghiện chất ma túy, thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Để có ma túy sử dụng, khoảng 07 giờ ngày 26/02/2023, T điều khiển xe mô tô BKS 27F9-7327 từ nhà đến bản X, xã T, huyện Đ để mua ma túy sử dụng. Khi đên khu vực giữa bản, T gặp và mua của người đàn ông không quen biết được 01 gói Heroine, được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T cất giấu trong túi áo đang mặc rồi điều khiển xe về nghĩa trang H1 thuộc tổ dân phố F, phường N, thành phố Đ để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đến nơi thấy không có người, T lấy gói Heroine vừa mua được để xuống đất, rồi tiếp tục lấy 01 ống bơm kim tiêm, 01 lọ Novocain làm bằng thủy tinh và 02 lọ nước cất mang theo từ trước để sử dụng Heroine bằng hình thức trích. Đến 07 giờ 45 phút cùng ngày, khi T chưa kịp sử dụng số Heroine trên thì bị tổ công tác Công an phường T, thành phố Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ: 01 gói nhỏ được gói bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong chứa các cục chất bột thể rắn, màu trắng nghi là Heroine, 01 ống kim tiêm dung tích 3ml, 02 lọ nước cất có vỏ làm bằng ống nhựa trong suốt màu trắng, 01 lọ nước có vỏ làm bằng thủy tinh trong suôt, bên ngoài có ghi Novocain 3%; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Hoda Wave RSX màu đỏ, đen; BKS 27-F97327; số khung: RLHHC12328Y610213; số máy: HC12E-2038305, xe cũ đã qua sử dụng.
Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, niêm phong vật chứng là gói nhỏ gói bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong chứa các cục chất bột thể rắn, màu trắng nghi là Heroine thu giữ của T, gửi toàn bộ làm mẫu giám định. Tại Bản kết luận định giám định số 409/KL-KTHS ngày 05/3/2023 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ là 0,35 gam. H lại mẫu giám định là 0,26 gam. Cáo trạng số 90/CT-VKSTPĐBP ngày 30/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ để xét xử bị cáo Cao Huy T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cao huy T1 từ 14 tháng đến 17 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án, vật tạm thu, tạm giữ: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Đ a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,26 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 ống kim tiêm loại 3ml, 02 lọ nước cất có vỏ bằng nhựa, 01 lọ Novocain 3%.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Đ a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố và lời luận tội của đại diện V, không có ý kiến bào chữa, không tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; biên bản niêm phong, mở niêm phong, giao nhận đối tượng giám định; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Hồi 07 giờ 45 phút ngày 26/02/2023, tại khu vực nghĩa trang H1 thuộc tổ dân phố F, phường N, thành phố Đ. Cao Huy T có hành vi cất giấu trái phép 0,35 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
. Về tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là đơn giản, do nghiện ma túy nên đã đi mua và cất giữ trái phép ma túy để sử dụng, mặc dù nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, cũng như chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với loại tội phạm này, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm các quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố Đ cần phải xử lý nghiêm.
. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người nghiện ma túy; bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bố đẻ bị cáo là ông Cao Văn L được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị của đại diện Viện kiểm tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập chỉ đủ sinh hoạt bản thân, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.
. Về vật chứng vụ án, vật tạm thu, tạm giữ: Căn cứ quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Đ a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,26 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 ống kim tiêm loại 3ml, 02 lọ nước cất có vỏ bằng nhựa, 01 lọ Novocain 3%, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Hoda Wave RSX màu đỏ, đen; BKS 27-F97327; số khung: RLHHC12328Y610213; số máy: HC12E-2038305 mà Toán đã qua sử dụng vào việc phạm tội, chị Lù Thị B không biết T mượn xe sử dụng vào việc pham tội, cơ quan CSĐT Công án thành phố Đ trả lại cho chị B là chủ sở hữu tài sản theo quy định.
. Án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác:
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Đ a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông không quen biết nên không có cơ sở để điều tra làm rõ, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 38; Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
Điều 135, Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Cao Huy T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Cao Huy T 01 (Một) năm 04 (B1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2023.
2. Vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ: Tịch thu tiêu hủy 0,26 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu trắng, 01 ống kim tiêm loại 3ml, 02 lọ nước cất có vỏ bằng nhựa, 01 lọ Novocain 3%. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 16/6/2023).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Điện Biên; - TAND tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp; - VKSND thành phố ĐBP; - CA thành phố ĐBP; - CQ. THAHS; - Hồ sơ THA hình sự; - Chi cục THADS TP ĐBP; - Nhà TG; - BP. HSNV; - Vụ GĐ; - Bị cáo; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án; | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Định |