- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Quyết T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Quyết T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 125/2023/HS-ST Ngày 08/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lèo Văn Hưởng, bà Hoàng Thanh Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tHnh phố Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tHnh phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đức Quyết T, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1999; tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tổ 11, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa:12/12 (học vấn): Cử nhân; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số 52-QĐ/UBKTTU ngày 12/4/2023); Con ông Nguyễn Đức Ng và con bà Nguyễn Thị Mai H; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05 tháng 4 năm 2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Quàng Quang H, sinh ngày 08 tháng 9 năm 1996; phường A, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tổ 2, phường A, thành phố S, tỉnh Sơn La; Chỗ ở hiện nay: Bản C, phường A, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Quàng Văn Tuấn và con bà Lù Thị Thắm; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: Không.
Tiền án:
+ Năm 2017 bị TAND thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 22 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
+ Năm 2021 bị TAND thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04 tháng 4 năm 2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Cầm Thị Thanh H, sinh ngày 30 tháng 11 năm 1996; Huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tổ 8, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Chỗ ở hiện nay: Tổ 9, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Cầm Văn Kh và con bà Lò Thị D; Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04 tháng 4 năm 2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị D, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ 8, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 20 phút ngày 03/4/2023, tại khu vực tổ 09, phường Quyết Thắng, tHnh phố Sơn La, Cầm Thị Thanh H bị tổ công tác Công an thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ là 01 gói giấy bạc bên trong có 03 viên nén màu hồng, (H đang cầm trên tay tự giác giao nộp) H khai nhận là ma túy hồng phiến vừa mua được của Quàng Quang H để sử dụng. Ngoài ra còn tạm giữ của H 01 xe mô tô biển kiểm soát 26B1-785.89, nhãn hiệu HONDA, loại Vision, màu đỏ đen, số khung 652247, số máy 0322372.
Căn cứ lời khai của Cầm Thị Thanh H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã T Hnh triệu tập đối tượng Quàng Quang H, H thừa nhận ngày 03/4/2023 đã bán ma túy cho H, đồng thời giao nộp 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 viên nén màu hồng và chất cục bột màu hồng, khai nhận là ma túy hồng phiến cất giấu để bán kiếm lời. Nguồn gốc số ma túy H khai mua của Nguyễn Đức Quyết T, trú tại tổ 11, phường Q, thành phố S vào ngày 03/4/2023. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Sơn La đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp số 06/LG-ĐCSKT,MT ngày 04/4/2023 đối với Quàng Quang H
Căn cứ lời khai của H, Cơ quan Cảnh sát điều tra triệu tập Nguyễn Đức Quyết T đến làm việc, T thừa nhận ngày 03/4/2023 đã bán ma túy cho Quàng Quang H tại phòng trọ của H, đồng thời giao nộp 01 túi nilon màu hồng có chữ A, bên trong có 05 viên nén màu hồng và khai nhận là ma túy hồng phiến cất giữ để bán kiếm lợi nhuận. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Sơn La đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp số 07/LG-ĐCSKT,MT ngày 0/4/2023 đối với Nguyễn Đức Quyết T.
Ngày 04/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ của Cầm Thị Thanh H và Quàng Quang H. Kết quả:
Đối với Cầm Thị Thanh H: 03 viên nén màu hồng có khối lượng 0,28 gam; lấy 02 viên có khối lượng 0,19 gam làm mẫu giám định ký hiệu A1, còn lại 01 viên có khối lượng 0,09 làm mẫu lưu kho ký hiệu B.
Đối với Quàng Quang H:
- 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,11 gam; lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu A2.
- Chất cục bột màu hồng có khối lượng 0,05 gam; lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu A3.
Ngày 05/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức Quyết T. Kết quả: 05 viên nén màu hồng có khối lượng 0,50 gam; lấy 03 viên có khối lượng 0,30 gam làm mẫu giám định ký hiệu V, còn lại 02 viên có khối lượng 0,20 làm mẫu lưu kho ký hiệu H.
Tại Kết luận giám định số 748/KL-KTHS ngày 05/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu A1, A2, A3 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là A1 =0,19 gam, A2 = 0,11 gam, A3 = 0,05 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,44 gam; Loại Methamphetamine”. (Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
Tại Kết luận giám định số 756/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu V là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định V = 0,30 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,50 gam; Loại Methamphetamine". (Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Cầm Thị Thanh H và Quàng Quang H có mối quan hệ quen biết nhau, H có quen biết với Nguyễn Đức Quyết T, giữa T và H không có mối quan hệ quen biết với nhau. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 03/4/2023, Nguyễn Đức Quyết T đi bộ từ nH tại tổ 11, phường Quyết Tâm, tHnh phố Sơn La đến khu vực hồ câu bản Cá thuộc tổ 06, phường L, thành phố S để xem câu cá. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T đi bộ ra khu vực bờ kè suối phía sau hồ câu thì nhặt được 01 túi ni lon màu hồng có chữ A, bên trong có 10 viên Methamphetamine nên đã cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc, sau đó đi bộ đến phòng trọ của Quàng Quang H tại bản C, phường A, thành phố Sơn La. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, tại phòng trọ của H, T nói với H là vừa nhặt được 10 viên Methamphetamine thì H đặt vấn đề mua nợ 0,5 viên Methamphetamine với số tiền 300.000 đồng, T đồng ý. T mở gói ma túy vừa nhặt được ra, lấy 0,5 viên Methamphetamine đưa cho H và nói khi nào có tiền thì trả cho T sau. Số ma túy còn lại T cất vào túi quần đang mặc để có ai mua T sẽ bán lại rồi bỏ đi. Với số ma túy vừa mua được của T, H lấy ra 03 viên Methamphetamine gói lại trong 01 gói giấy bạc rồi cất trong túi quần đang mặc, còn 02 viên Methamphetamine H nghiền nát 01 viên thành dạng cục bột và cất chung với 01 viên còn lại vào trong túi nilon màu trắng rồi để trên mặt tủ quần áo trong phòng trọ, để khi có người mua H sẽ bán cho họ. Khoảng 22 giờ 50 phút cùng ngày, Cầm Thị Thanh H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26B1-785.89 đi từ nhà tại tổ 09, phường Q, thành phố S đến phòng trọ của H mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, H gặp H đang đứng một mình trước cửa phòng trọ nên đã lại gần và hỏi mua được của H 03 viên Methamphetamine được gói trong 01 gói giấy bạc với số tiền 300.000 đồng. H cầm số ma túy vừa mua trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến khu vực tổ 09, phường Q, thành phố S thì bị tổ công tác Công an thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Đối với Quàng Quang H, khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, H mang theo số tiền 300.000 đồng có được từ việc bán ma túy cho H đi bộ đến khu vực Trường Cao đẳng Y tế Sơn La chơi thì gặp T đang đi lang thang ở đường. Tại đây, H đã trả cho T 300.000 đồng tiền mua nợ ma túy rồi đi bộ về phòng trọ của mình còn T tiếp tục đi lang thang quanh thành phố Sơn La.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Nguyễn Đức Quyết T khai nhặt được tại khu vực bờ kè suối phía sau hồ câu Cá thuộc tổ 06, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, ngoài lời khai của bị cáo, không có nguồn chứng cứ nào khác để chứng minh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Đối với chiếc mô tô biển kiểm soát 26B1-785.89, nhãn hiệu HONDA, loại Vision, màu đỏ đen, số khung 652247, số máy 0322372, đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị M. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên do chị Nguyễn Thị M, trú tại tiểu khu cấp 03, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, Hện Mộc Châu, tỉnh Sơn La mua tại cửa hàng xe máy Honda Hùng Mạnh tại Hện Mộc Châu vào tháng 3/2013. Sau đó chị Mai đã bán chiếc xe mô tô trên cho một người đàn ông không quen biết tại thành phố Sơn La vào năm 2021. Đến năm 2022 bà Lò Thị D (mẹ đẻ của Cầm Thị Thanh H) mua lại và sử dụng cho đến nay. Việc Cầm Thị Thanh H tự ý sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội ngày 03/4/2023 bà D không biết, do đó không đặt liên quan đến việc phạm tội của các bị cáo.
Tại bản cáo trạng số: 323/CT-VKSTP ngày 18/7/2023, của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức Quyết T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, Quàng Quang H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, Cầm Thị Thanh H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ Hnh vi phạm tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức Quyết T và Quàng Quang H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Quyết T từ 18 đến 24 tháng tù.
Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Quàng Quang H từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.
Tuyên bố bị cáo Cầm Thị Thanh H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Cầm Thị Thanh H từ 12 đến 16 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì Công văn Công an thành phố Sơn La niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Nguyễn Đức Quyết T, Mua bán trái phép chất ma túy. Bắt ngày 05/4/2023. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 vỏ túi nilon màu hồng một mặt có chữ A; Mẫu lưu kho ký hiệu H”.
+ 01 (một) phong bì Công văn Công an thành phố Sơn La niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Quàng Quang H và Cầm Thị Thanh H, Mua bán trái phép chất ma túy. Gồm: 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; 01 túi nilon màu trắng; Mẫu lưu ký hiệu có khối lượng 0,09 gam”.
Trả lại cho bà Lò Thị D 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, biển kiểm soát 26B1-785.89 quản lý và sử dụng.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị D có ý kiến xin lại tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tHnh phố Sơn la, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về Hnh vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thể hiện:
Ngày 03/4/2023, tại khu vực bản C, phường A, thành phố S, Nguyễn Đức Quyết T đã thực hiện Hnh vi bán cho Quàng Quang H 0,44 gam Methamphetamine để lấy số tiền 300.000 đồng, mang theo người 0,50 gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lợi nhuận tại khu vực tổ 02, phường Q, thành phố S. Quàng Quang H sau khi mua được ma túy Methamphetamine của Nguyễn Đức Quyết T, tại khu vực bản C, phường A, thành phố Sơn La đã thực hiện Hành vi bán cho Cầm Thị Thanh H 0,28 gam Methamphetamine để lấy số tiền 300.000 đồng, cất giấu 0,16 gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lợi nhuận, Cầm Thị Thanh H đã thực hiện Hành vi mua 0,28 gam Methamphetamine của Quàng Quang H nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ 09, phường Q, thành phố S.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 30 phút ngày 03/4/2023 tại khu vực tổ 9, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Cầm Thị Thanh H cùng vật chứng thu giữ là 01 gói giấy bạc bên trong có chứa 03 viên nén đồng dạng màu hồng có tổng khối lượng 0,28 gam; Kết luận giám định là ma tuý, loại Methamphetamine
- Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp lập hồi 15 giờ 00 phút ngày 04/4/2023 tại bản C, phường A, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Quàng Quang H cùng vật chứng thu giữ là 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,11 gam và chất bột màu hồng có khối lượng 0,05 gam.
- Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp lập hồi 11 giờ 00 phút ngày 05/4/2023 tại phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Nguyễn Đức Quyết T cùng vật chứng thu giữ là 01 túi nilon màu hồng một mặt có chữ A bên trong có chứa 05 viên nén màu hồng đồng dạng có tổng khối lượng 0,50 gam; kết luận giám định là ma tuý, loại Methamphetamine.
- Lời khai nhận tội của các bị cáo;
Lời khai của anh Trương Thanh T, sinh năm 1990 trú tại tổ 9, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Chị Vì Thị H, sinh năm 1986 trú tại bản Hẹo, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La; Anh Trần Hoàng D, sinh năm 1995 trú tại tổ 3, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La là những người có mặt, chứng kiến việc bắt giữ các bị cáo.
Đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Đức Quyết T và Quàng Quang H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Cầm Thị Thanh H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Đức Quyết T phạm tội với tổng khối lượng 0,50 gam Methamphetamine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 7 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Bị cáo Quàng Quang H phạm tội với tổng khối lượng 0,44 gam Methamphetamine (trong đó 0,16 gam Methamphetamine khi bắt khẩn cấp và 0,28 gam đã bán cho H). bị cáo có hai tiền án chưa được xóa án tích nên đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.
Bị cáo Cầm Thị Thanh H phạm tội với tổng khối lượng 0,28 gam Methamphetamine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo Nguyễn Đức Quyết T: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối hận về Hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác bản thân bị cáo có nhiều thành tích trong quá trình học tập lao động, được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen và được công nhận là chiễn sỹ thi đua cơ sở, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có ông bà nội, ông bà ngoại là người có công với các mạng, được tặng thưởng nhiều huân H chương và có bố mẹ đẻ có nhiều thành tích trong quá trình công tác, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Đối với các bị cáo Quàng Quang H và Cầm Thị Thanh H: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tích cực phối hợp với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án và khai ra đồng phạm, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Cầm Thị Thanh H có ông ngoại được tặng thưởng huân chương, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do bị cáo Nguyễn Đức Quyết T có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Quang H có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 nên cần áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, tạo điều kiện cho các bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Các bị cáo là lao động tự do, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi Hnh nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Vật chứng vụ án: Đối với 03 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 vỏ túi nilon màu hồng một mặt có chữ A; 01 mảnh giấy bạc; 01 túi nilon màu trắng; Mẫu lưu kho ký hiệu H; Mẫu lưu ký hiệu B có khối lượng 0,09 gam, là vật NH Nước cấm lưu Hnh và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc máy nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 26B1-785.89, số máy: 0322372, số khung: 652247 là tài sản hợp pháp của bà Lò Thị D, (mẹ đẻ của Cầm Thị Thanh H) việc bị cáo H tự ý sử dụng chiếc xe trên để thực hiện Hnh vi phạm tội bà D không biết, không liên quan đến việc phạm tội, tại phiên toà bà D có mặt xin được nhận lại xe là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Quyết T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Quyết T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 05/4/2023).
Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Quàng Quang H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Quàng Quang H 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 04/4/2023).
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Cầm Thị Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Cầm Thị Thanh H 13 (mười ba) tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 04/4/2023).
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 03 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 vỏ túi nilon màu hồng một mặt có chữ A; 01 mảnh giấy bạc; 01 túi nilon màu trắng; Mẫu lưu kho ký hiệu H; Mẫu lưu ký hiệu B có khối lượng 0,09 gam
Trả lại cho bà Lò Thị D 01 chiếc máy biển nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 26B1-785.89, số máy: 0322372, số khung: 652247, 01 gương chiếu hậu bé bên phải, xe qua sử dụng, cũ (tại thời điểm giao nhận không kiểm tra máy móc, thiết bị bên trong và tình trạng hoạt động của xe).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc các bị cáo Nguyễn Đức Quyết T, Quàng Quang H, Cầm Thị Thanh H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/8/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tHnh phố Sơn La (2); - THADS tHnh phố Sơn La; - Công an tHnh phố Sơn La; - THAPT (2); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Hồng |