vanban.org

Bản án 125/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Mã Diễm M về việc xin ly hôn ông Huỳnh Văn N.

Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Kim NG, sinh ngày 19/6/2022 cho bà Mã Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mi - Nam"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Mã Diễm M về việc xin ly hôn ông Huỳnh Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13 - 6 - 2023
V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Hàng Bích Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Ánh Hoa

Ông Hà Trọng Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 13 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 235/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mã Diễm M; Sinh năm 1999 (Có mặt)

Nơi cư trú: Ấp tl, xã TT, huyện DD, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn N; Sinh năm 2001 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp BT, xã BĐ, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, bà Mã Diễm M trình bày:

Về hôn nhân: Bà Mã Diễm M và ông Huỳnh Văn N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân xin ly hôn do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, ông N và bà M đã ly thân từ cuối năm 2022 đến nay, cả hai không tìm được tiếng nói chung và không còn quan tâm lẫn nhau. Bà M xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông N.

Về nuôi con chung: Bà Mã Diễm M và ông Huỳnh Văn N có 01 con chung tên Huỳnh Kim NG, sinh ngày 19/6/2022. Khi ly hôn bà M yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Bà M xác định không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà M xác định vợ chồng không có nợ chung và không ai nợ lại.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Huỳnh Văn N đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Huỳnh Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hôn nhân: Bà Mã Diễm M và ông Huỳnh Văn N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2022 theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo bà M trình bày: Giữa vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông N không chăm lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình dẫn đến thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn kéo dài trầm trọng không thể hàn gắn, cả hai không tìm được tiếng nói chung nên ông N và bà M đã ly thân từ năm cuối năm 2022 đến nay. Bà M xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông N. Về phía ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án cho thấy ông N không có thiện chí trong việc hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với bà M. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông N và bà M không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà M được ly hôn với ông N.

[3] Về nuôi con chung: Bà Mã Diễm M và ông Huỳnh Văn N có con chung là Huỳnh Kim NG, sinh ngày 19/6/2022, khi ly hôn bà M yêu cầu được quyền nuôi con. Xét thấy con chung tên vẫn chưa đủ 36 tháng tuổi, từ trước đến nay thường xuyên do bà M chăm sóc trực tiếp và hiện nay đang sống chung với bà M, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao cháu NG cho bà M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà M xác định không có, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 207, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Mã Diễm M về việc xin ly hôn ông Huỳnh Văn N.

- Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Kim NG, sinh ngày 19/6/2022 cho bà Mã Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Ông N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Mã Diễm M phải chịu 300.000 đồng. Ngày 19/4/2023, bà Mã Diễm M đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003224 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển nộp ngân sách Nhà nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ