vanban.org

Bản án 125/2022/HSST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 28/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị Trần Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quang H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị Trần Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:125/2022/HSST
Ngày:28/09/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Thủy.

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh.

2. Ông Đồng Văn Thành.

Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 28/09/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số:104/2022/HSST ngày 31 tháng 08 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/QĐXX

- STngày 13/09/2022 đối với bị cáo:

Trần Quang H, sinh năm 1997 tại Phổ Yên - Thái Nguyên; Hộ khẩu thường trú: tổ dân phố ĐX, phường BB, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố 2, phường BH, thành Phổ Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa lớp: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hoàng T và bà Nguyễn Thị P; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/6/2022 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1998 (vắng mặt);

Trú tại: tổ dân phố TL, phường TH, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

*Người làm chứng:

1. Anh Vũ Minh H, sinh năm 2001 (có mặt);

Trú tại: Xóm NL1, xã TC, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Lưu Văn L, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Trú tại: Xóm NV 4, xã VP, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (Hiện đang chấp hành án tại trại giam Phú S 4).

3. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991 (vắng mặt);

Trú tại: Xóm ĐM15, xã MĐ, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

*Người chứng kiến:

1. Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1985;

Địa chỉ: tổ dân phố TH, phường ĐT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Nguyễn Văn Á, sinh năm 1986;

Địa chỉ: tổ dân phố TH, phường ĐT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

(Anh L, anh T, anh N, anh Á đều vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 40 phút, ngày 17/8/2021, tổ công tác của Công an thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên phối hợp với Công an phường ĐT làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực tổ dân phố TH, phường Đồng Tiến

- Phổ Yên thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân báo tin tại khu vực trước cổng dãy nhà trọ của anh Nguyễn Văn Á (sinh năm 1986) thuộc tổ dân phố TH, phường ĐT, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có 03 đối tượng nam giới có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã đến địa điểm trên xác minh thì phát hiện có 01 đối tượng nam giới đang đi bộ vào trong dãy nhà trọ và 02 đối tượng nam giới khác đi xe mô tô ra khu vực tái định cư. Tổ công tác đã truy đuổi giữ lại 02 đối tượng đi xe mô tô cách vị trí phát hiện 50m đưa về phòng trọ số 2 để kiểm tra gồm: Nguyễn Thanh S (sinh năm 1998; trú tại tổ dân phố TL, phường TH, thành phố Phổ Yên) và Vũ Minh H (sinh năm 2001; trú tại xóm NL1, xã TC, thành phố Phổ Yên), đồng thời giữ đối tượng Trần Quang H là người nam giới vừa đi bộ vào trong phòng trọ số 2 dãy nhà trọ nhà anh Á để làm việc. Ngoài ra, trong phòng trọ số 02 còn có anh Lưu Văn L (sinh năm 1988, trú tại xóm NV4, xã VP, thành phố Phổ Yên). Quá trình kiểm tra Nguyễn Thanh S tự lấy trong túi quần bò phía trước bên phải đang mặc ra 01 túi nilon bên trong có chứa chất rắn mầu trắng giao nộp cho tổ công tác (Theo S khai số chất rắn màu trắng là ma túy của S vừa mua được của H với giá 900.000 đồng); tạm giữ của S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S gắn sim 0975.727.654; tạm giữ của H số tiền 900.000 đồng (Gồm: 700.000 đồng trên người H và 200.000 đồng H vừa làm rơi ở cạnh vị trí H ngồi), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy Note 8 (gắn sim số thuê bao 0359.795.446 và 0329.597.222), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 bên trong không có gắn sim. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, niêm phong các vật chứng, đưa các đối tượng liên quan về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên giải quyết.

Ngày 18/8/2021, Cơ quan điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại tổ dân phố 2, phường BH, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, quá trình khám xét không phát hiện thu giữ gì. Cùng ngày 18/8/2021, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên cân khối lượng không bì gói chất rắn màu trắng thu giữ của S được 0,478 gam, lấy tất cả niêm phong trong phong bì kí hiệu M gửi giám định theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 1304 ngày 27/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất rắn màu trắng trong phong bì ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy; loại Ketamine; khối lượng: 0,478gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh S và Vũ Minh H khai: Do bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng 19 giờ ngày 17/8/2021, S đã sử dụng tài khoản Messenger là “ʚAdam Còɞ” nhắn tin với Trần Quang H có tài khoản Messenger là “H Ly” hỏi mua ma túy là nửa chỉ “Ke”, H đồng ý và báo giá nửa chỉ ke là 900.000 đồng. Sau đó S và H có gọi điện thoại cho nhau, H hẹn S đến cổng dãy nhà trọ của anh Nguyễn Văn Á, thuộc tổ dân phố TH, phường ĐT, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để trao đổi mua bán ma túy. Sau khi nhắn tin gọi điện thống nhất mua ma túy với H, S rủ anh Hiếu cùng đi xe mô tô đến chỗ hẹn để mua ma túy của H. Đến nơi, thấy H đang đứng ở cổng dãy nhà trọ đợi, H đưa cho S 01 túi nilon bên trong có chứa ma túy “Ke”, S đưa cho H số tiền 900.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S cùng Hiếu lên xe mô tô đi về được khoảng 50m thì bị lực lượng Công an thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên truy đuổi bắt giữ đưa về phòng trọ nơi H đang ở trong đó kiểm tra và thu giữ số ma túy vừa mua được. Ngoài ra, S còn khai nhận trước đó vào khoảng 13 giờ ngày 16/8/2021, S cũng đã sử dụng tài khoản Messenger là “ʚAdam Còɞ” nhắn tin với H qua tài khoản Messenger là “H Ly” để hỏi mua một chỉ ma túy “Ke” và hai viên ma túy loại “Kẹo”. H đồng ý và bảo giá tiền một chỉ ma túy “Ke” và hai viên ma túy “Kẹo” là 2.900.000 đồng. Rồi H hẹn S đến khu vực ngã ba Lê Hồng Phong thuộc phường BH, thành phố Phổ Yên giao dịch mua bán ma túy. S cũng rủ theo Hiếu đi cùng. Khi đi đến gần khu vực ngã ba Lê Hồng Phong, S thấy H đang ngồi trên xe ô tô biển kiểm soát 20L-2668 dừng đỗ bên trái đường tỉnh lộ 261 theo hướng Ba Hàng đi Bãi Bông. S lên xe H ngồi ở vị trí ghế phụ bên phải, còn Hiếu đứng bên cạnh xe ô tô gần vị trí S ngồi. Khi lên xe, S đưa cho H số tiền 2.900.000đồng. Một lúc sau có một nam giới (Sau này S xác định được là Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; trú tại xóm ĐM15, xã MĐ, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên) đi từ trong ngõ gần đó ra đứng cạnh cửa bên lái chỗ H ngồi và đưa cho H túi ma túy “Ke” và hai viên ma túy “Kẹo”. H cầm số ma túy trên rồi đưa cho S. Sau khi mua được ma túy S cùng H đi về và đã sử dụng hết số ma túy trên.

Người làm chứng anh Lưu Văn L có mặt tại phòng trọ số 2 khi tổ công tác Công an thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên giữ và kiểm tra đối với H khai: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/8/2021, anh L có nhờ H đưa từ quán Spa ở Samsung Phổ Yên về phòng trọ của anh L tại tổ dân phố TH, phường ĐT, thành phố Phổ Yên, H có vào phòng trọ của anh L ngồi chơi. Khi H đang ở trong phòng trọ thì anh L có nghe thấy H nghe và nói chuyện điện thoại với ai đó, anh L không biết, nội dung H có nói“Bạn đến tái định cư chưa, thế để tôi cầm ra”. Sau đó H đi ra ngoài khoảng 5 phút sau thì quay lại phòng trọ, cùng lúc này lực lượng Công an Phổ Yên đã vào phòng trọ của anh L yêu cầu kiểm tra đối với H và tạm giữ của H số tiền 900.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng) cùng 02 chiếc điện thoại di động của H...

Quá trình điều tra Trần Quang H không khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. H khai: Khoảng 19 giờ ngày 17/8/2021, H từ nhà đến quán Spa của anh L đón anh L về phòng trọ của anh L tại khu tái định cư thuộc tổ dân phố TH, phường ĐT, thành phố Phổ Yên. Khi H đang ở phòng trọ của anh L chơi thì S là bạn bè quen biết có nhắn tin qua mạng xã hội Messenger bảo H lấy hộ S nửa chỉ ma túy “Ke”. H đồng ý và bảo S giá nửa chỉ ma túy “Ke” là 800.000 đồng nhưng sau đó H lấy 100.000 đồng tiền công và tiền xe nên H bảo S là 900.000 đồng. Sau đó, H gọi điện thoại và hẹn S đến dãy nhà trọ ở khu vực tổ dân phố TH, phường ĐT, thị xã (nay là thành phố Phổ Yên) để đưa tiền cho H. Khoảng một lúc sau S đi xe mô tô cùng với Hiếu đến và đưa cho H số tiền 900.000đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng), H cầm tiền sau đó đi vào phòng trọ số 02 của anh Long. Ngay sau đó lực lượng Công an Phổ Yên vào giữ H yêu cầu kiểm tra rồi đưa S và H vào phòng trọ số 02. Khi lực lượng công an kiểm tra đã thu giữ trên người H số tiền 700.000 đồng và 200.000 đồng H làm rơi ở nền phòng trọ cạnh chỗ H ngồi. H thừa nhận số tiền 900.000đồng trên là của S vừa đưa cho H để H mua ma túy hộ S chứ H chưa có ma túy và đưa cho S. Ngoài ra, lời khai ban đầu, H khai nhận trước đó đã lấy hộ ma túy cho S 2-3 lần, cụ thể lần gần nhất là vào khoảng 14 giờ ngày 16/8/2021, H đã lấy hộ ma túy cho S gồm 01 chỉ “Ke” và 02 viên “Kẹo” với giá là 2.900.000 đồng, số ma túy này, H lấy của Nguyễn Văn T, H đưa cho T 2.800.000 đồng còn H giữ lại 100.000 đồng tiền công, anh Tân cầm tiền rồi đưa ma túy cho H, sau đó H đưa lại cho S phù hợp với lời khai của S và H. Tuy nhiên, sau đó H không thừa nhận việc đã mua hộ ma túy cho S chiều ngày 16/8/2021 mà khai chiều ngày 16/8/2021, S có nhắn tin qua mạng xã hội nhờ H lấy hộ 2.900.000 đồng tiền ma túy gồm 01 chỉ “Ke” và 02 viên “Kẹo”, S có đưa cho H số tiền 2.900.000 đồng nhưng sau khi gặp T, T nói không có ma túy thì H đã trả lại cho S 2.900.000 đồng.

Căn cứ vào lời khai của H, Cơ quan điều tra đã xác minh triệu tập Nguyễn Văn T để đấu tranh làm rõ nhưng T khai: T không quen biết gì với H. Ngày 16/8/2021, không có ai hỏi T mua ma túy, T không bán ma túy cho ai khi nào cả.

Theo lời khai của người làm chứng Vũ Minh H: Vào khoảng 20 giờ này 17/8/2021 H đi cùng Nguyễn Thanh S thì được S rủ đi mua ma túy để sử dụng. Sau S dẫn H đến tổ dân phố TH, phường HT, thành phố Phổ Yên. Trên đường đi H thấy S có liên lạc với bị cáo H hỏi mua nửa chỉ ma túy “Ke” của H và H có bảo S đến dãy nhà trọ thuộc TDP TH, phường ĐT để gặp H. Khi đến nơi H và S thấy H đứng ở cửa dãy trọ, khi thấy H và S thì H đi đến chỗ H và S, lúc này H và S đứng ở rìa đường dân sinh. H thấy H đưa cho S 01 túi nilon trong suốt bên trong có chứa ma túy “Ke” bằng tay trái. Khi S cầm túi ma túy có nói với H là “Sao ít thế” rồi lấy ở trong người ra số tiền 900.000đ gồm 1 tờ 500.000đ và 02 tờ 200.000đ. Khi nhận được ma túy thì H có bảo S đưa cho H xem và S đưa túi ma túy vừa mua được cho H xem. H thấy bên trong túi nilon là chất tinh thể màu trắng, H nhận ra là ma túy “Ke” với số lượng khoảng nửa chỉ. Khi H đưa lại ma túy cho S, S cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi ra về. Khi H và S đi được khoảng 50m thì bị lực lượng công an kiểm tra.

Theo lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn S: Vào khoảng 16 giờ ngày 17/8/2022 do có nhu cầu sử dụng ma túy tổng hợp dạng “Ke” nên S có dùng phần mềm nhắn tin Messenger với tài khoản là “ʚAdam Còɞ” nhắn tin với H có tài khoản Messenger là “H Ly” hỏi mua ma túy là nửa chỉ “Ke”, H đồng ý và báo giá nửa chỉ ke là 900.000 đồng. S và H có gọi video trên Messenger và nhắn tin cho nhau và H hẹn ra dãy trọ mà H đang ở tại khu vực TDP TH phường ĐT. Đến nơi S và H đi gần lại chỗ H đứng trước cổng một dãy trọ và H đưa cho S một túi linon màu trắng, bên trong có chứa ma túy tổng hợp dạng “Ke”. Nhận được ma túy S kiểm tra và đưa cho H 900.000đ và nó với H là “sao ít thế” thì H nói với S là “đủ số” (ý của H là đủ nửa chỉ ma túy). Mua được ma túy S đưa cho H xem, khi H đưa ma túy lại cho S thì S cất vào túi quần bên phải rồi cùng H ra về. Khi H và S đi được khoảng 50m thì bị lực lượng công an kiểm tra.

Tuy trong suốt quá trình điều tra Trần Quang H không thừa nhận việc đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh S vào buổi tối ngày 17/8/2021 tại khu vực trước cổng dãy nhà trọ của gia đình anh Nguyễn Văn Á thuộc tổ dân phố TH, phường ĐT, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Tại bản cáo trạng số: 115/CT- VKSPY ngày 26/08/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Quang H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Trần Quang H xác định bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố đối với H về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng, không oan. H xác định ngày 17/8/2021 S bảo H đi mua ma tuý cho S, H đã nhận của S 900.000đồng (chín trăm nghìn đồng) và sẽ đi mua ma tuý hết 800,000đồng lấy lãi 100.000đồng. Lời khai của H tại phiên toà phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: nội dung tin nhắn qua mạng xã hội Messenger trao đổi việc mua bán ma túy nửa chỉ “Ke” với giá 900.000 đồng giữa H với S; số ma túykhối lượng 0,478 gam loại Ketamine thu giữ của S phù hợp với số tiền S bỏ ra để mua ma túy. Số tiền 900.000 đồng thu giữ của H, Lời khai của người làm chứng là Vũ Minh H ở tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà đều xác định H được S rủ đi cùng S để mua ma túy của H chính mắt H trông thấy H đưa cho S 01 túi ni long bên trong có chứa ma túy, sau đó S đưa 900.000 đồng cho H, do khi S cầm túi ma túy, Hiếu bảo S đưa cho H xem thì S đưa cho H, H kiểm tra và xác định là túi nilon bên trong có chứa chất rắn mầu trắng, do cũng là người nghiện ma túy nên H biết đây là ma túy loại “Ke”. Sau khi xem xong H đưa lại túi ma túy cho S, S đút vào túi quần phía trước bên phải đang mặc đi về thì bị lực lượng công an Phổ Yên giữ lại đưa về phòng trọ số 2 nơi H đang ở đấy để kiểm tra, S đã tự nguyện giao nộp túi nilon có chứa ma túy mà S vừa mua được của H cho lực lượng Công an; Lời khai của người làm chứng anh Lưu Văn H xác định khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/8/2021 sau khi đưa anh Hg từ quán Spa về phòng trọ của anh H, quá trình ngồi chơi tại phòng trọ của anh H, anh H có nghe thấy H nói chuyện điện thoại với ai đó và nói “Bạn đến tái định cư chưa, thế để tôi cầm ra”, sau đó H đi ra ngoài khoảng 05 phút sau quay lại phòng trọ thì bị lực lượng công an Phổ Yên vào yêu cầu kiểm tra thu giữ số tiền 900.000 đồng trên người H. Với các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định Trần Quang H có hành vi bán trái phép chất ma túy 0,478 gam loại Ketamine cho Nguyễn Thanh S vào ngày 17/8/2021 tại khu vực trước cổng dãy nhà trọ của gia đình anh Nguyễn Văn Á, thuộc tổ dân phố TH, phường ĐT, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thu lợi bất chính 900.000 đồng. Hành vi, ý thức nêu trên của Trần Quang H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần thẩm vấn. Đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quang H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Quang H từ 03 đến 04 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo H từ 10.000.000đồng đến 12.000.000đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M ghi hoàn trả 0,378 gam mẫu M còn lại sau giám định và bao gói mẫu M. 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 900.000đồng (chín trăm nghìn đồng); 01 phong bì niêm phong ký hiệu N1 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 358335083153682, số IMEI 2: 358335083153682, bên trong có gắn sim 0329.597.222 và 0359.795.446 thu giữ của bị cáo H; 01 phong bì niêm phong ký hiệu N3 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI: 353338073432962, bên trong có gắn sim 0975.727.654 thu giữ của S.

Trả lại cho bị cáo H: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu N2 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 353836087911772, bên trong không gắn sim.

- Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận gì. Nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người làm chứng, người chứng kiến: Tại phiên toà anh S, anh N, anh Á, anh , anh T đều vắng mặt. Bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đều đề nghị xét xử vắng mặt những người nêu trên. Xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292,293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử tiếp tục xét xử là đúng quy định của pháp luật.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra bị cáo H không thừa nhận việc đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh S vào buổi tối ngày 17/8/2021 tại khu vực trước cổng dãy nhà trọ của gia đình anh Nguyễn Văn Á thuộc tổ dân phố TH, phường ĐT, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Xong tại phiên toà bị cáo H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với những tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Nội dung tin nhắn qua mạng xã hội Messenger trao đổi việc mua bán ma túy nửa chỉ “Ke” với giá 900.000 đồng giữa H với S và lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, số tiền thu được của H và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Xác định được vào khoảng 19 giờ ngày 17/8/2021, S đã sử dụng tài khoản Messenger là “ʚAdam Còɞ” nhắn tin với H có tài khoản Messenger là “H Ly” hỏi mua ma túy là nửa chỉ “Ke”, H đồng ý và báo giá nửa chỉ ke là 900.000 đồng. Sau đó giữa S và H có gọi điện thoại cho nhau, H hẹn S đến cổng dãy nhà trọ của anh Nguyễn Văn Á, thuộc tổ dân phố TH, phường ĐT, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để trao đổi mua bán ma túy. Khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 17/8/2021 khi H đang đứng ở cổng dãy nhà trọ đợi thì S với Hiếu điểu khiển xe moto đến, H đưa cho S 01 túi nilon bên trong có chứa ma túy “Ke”, S đưa cho H số tiền 900.000 đồng và ngay sau khi H vừa bán ma tuý cho S xong, S đã nhận ma tuý và đi được khoảng 50 mét đã bị bắt giữ ngay. Vật chứng thu giữ của S là ma tuý có trọng là 0,478 gam. Kết quả giám định là Ketamine. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Hồi 20 giờ 40 phút, ngày 17/8/2021tại khu vực trước cổng dãy nhà trọ của anh Nguyễn Văn Á (sinh năm 1986), thuộc tổ dân phố TH, phường ĐT, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Trần Quang H đã có hành vi bán trái phép 0,478 gam chất ma túy loại Ketamine cho Nguyễn Thanh S thu lợi bất chính số tiền 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng), thì bị lực lượng Công an thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt giữ. Hành vi, ý thức nêu trên của bị cáo Trần Quang H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 bộ luật hình sự.

Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, truy tố bị cáo Trần Quang H theo tội danh và Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 251 Bộ luật hình sự có nội dung:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, làm kiệt quệ kinh tế, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, là nguyên nhân mắc căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS và làm phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân vì vậy cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự để giáo dục bị cáo và để răn đe phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đầy đủ được việc làm của mình là sai trái, tuy nhiên do hám lời, muốn kiếm tiền một cách nhàn hạ mà không phải từ lao động chân chính nên dẫn đến việc phạm tội.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động được gia đình nuôi ăn học đến lớp 10 thì nghỉ học. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra bị cáo chưa thành khẩn khai báo, Tuy nhiên tại phiên toà bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thừa nhận việc bị truy tố và đưa ra xét xử là hoàn toàn đúng, không oan, bị cáo rất ân hận về việc làm của mình, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, do đó cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới có thể cải tạo bị cáo thành người tốt được và cũng để răn đe phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm mục đích vụ lợi nên ngoài hình phạt chính cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nhất định để nộp ngân sách Nhà nước.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.

. Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M ghi hoàn trả 0,378 gam mẫu M còn lại sau giám định và bao gói mẫu M. 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho. Đây là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu huỷ.

- Số tiền 900.000đồng (chín trăm nghìn đồng); 01 phong bì niêm phong ký hiệu N1 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 358335083153682, số IMEI 2: 358335083153682, bên trong có gắn sim 0329.597.222 và 0359.795.446 thu giữ của bị cáo H; 01 phong bì niêm phong ký hiệu N3 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI: 353338073432962, bên trong có gắn sim 0975.727.654 thu giữ của S. Đây là tiền H bán ma tuý cho S mà có và 02 chiếc điện thoại của bị cáo H và S dùng vào việc trao đổi mua bán ma tuý. Do vậy cần tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu N2 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 353836087911772, bên trong không gắn sim, thu giữ của bị cáo H, xác định không liên quan đến việc phạm tội, lẽ ra cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên do bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và án phí hình sự, nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

. Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu, miễn giảm án phí, lệ phí tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này, Nguyễn Thanh S là người có hành vi mua ma túy của Trần Quang H để sử dụng. Tuy nhiên, khối lượng ma túy S mua của H là 0,478 gam chất ma túy loại Ketamine, đây là chất ma túy khác ở thể rắn. Về nhân thân ngày 07/8/2018 S có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” bị Công an thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đồng , S đã chấp hành xong Quyết định trên vào ngày 08/10/2018, nên thuộc trường hợp được coi là chưa bị xử phạt hành chính. Do vậy, hành vi của Nguyễn Thanh S không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã cHển tài liệu đến Công an thành phố Phổ Yên để tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với S theo quy định là phù hợp.

Đối với Vũ Minh H là người đi cùng với Nguyễn Thanh S để S mua ma túy của Trần Quang H, nhưng H không được bàn bạc, không góp tiền và không tham gia cùng S mua ma túy, Cơ quan điều tra xử lý gì đối với H là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn T: Theo H khai Tân là người đã bán cho H số ma túy mà sau đó H đã bán lại cho Nguyễn Thanh S vào chiều ngày 16/8/2021. Tuy nhiên quá trình giải quyết, H thay đổi lời khai xác định không có việc T bán ma túy cho H. Quá trình điều tra, T khai không quen biết gì với H, T không gặp H và không bán ma túy cho ai. Với các tài liệu chứng cứ thu thập được không đủ căn cứ chứng minh T bán ma túy cho H, nên cơ quan không xử lý về hành vi này của H và T là phù hợp.

Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy vào chiều ngày 16/8/2021 (theo lời khai của S và lời khai nhận ban đầu của H): Quá trình điều tra, H thay đổi lời khai không thừa nhận việc đã bán ma túy cho S. Mặt khác theo S khai số ma túy S mua của H chiều ngày 16/8/2021, S đã sử dụng hết nên không thể thu giữ được. Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ không đủ căn cứ để chứng minh hành vi bán trái phép chất ma túy vào ngày 16/8/2021 của H nên không xử lý gì với H là phù hợp.

Về nguồn gốc số ma túy Ketamine thu giữ của S, quá trình điều tra và tại phiên toà không xác định được nguồn gốc H mua ở đâu, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị Trần Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quang H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.

Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/6/2022.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Ra quyết định tạm giam bị cáo Trần Quang H 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo H 10.000.000đồng (mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M ghi hoàn trả 0,378 gam mẫu M còn lại sau giám định và bao gói mẫu M. 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 900.000đồng (chín trăm nghìn đồng); 01 phong bì niêm phong ký hiệu N1 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 358335083153682, số IMEI 2: 358335083153682, bên trong có gắn sim 0329.597.222 và 0359.795.446 thu giữ của bị cáo H; 01 phong bì niêm phong ký hiệu N3 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI: 353338073432962, bên trong có gắn sim 0975.727.654 thu giữ của S.

- Tạm giữ: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu N2 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 353836087911772, bên trong không gắn sim, thu giữ của bị cáo H, để đảm bảo công tác thi hành án.

“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 29/08/2022 và uỷ nhiệm chi số 208 ngày 29/08/2022”.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Trần Quang H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà Nước.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh S vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ