- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Hữu T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 02/2022/HS-ST ngày 06/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 125/2022/HS-PT Ngày: 27 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Việt Trung
Ông Trương Vĩnh Hữu
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Phi – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 91/2022/TLPT-HS ngày 12 tháng 04 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Hữu T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2022/HS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hữu T, sinh năm 1978, tại tỉnh Vĩnh Long;
- Nơi cư trú: H47 ĐTH, phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12;
- Dân tộc: Kinh; Gới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
- Con ông Nguyễn Tấn L (đã chết) và bà Trần Thị T1, sinh năm 1939;
- Vợ: Phan Thị Lệ Q, sinh năm 1983 đã ly hôn và có 01 người con sinh năm 2015.
- Tiền án, tiền sự: không;
- Đặc điểm nhân thân: Ngày 12/3/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện DT, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 250 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 23/2014/HSST).
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, còn có 02 bị hại; 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 12/10/2020, bị cáo Nguyễn Hữu T điều khiển xe ô tô tải biển số 68H-xxxxx lưu thông trên Quốc lộ 1A theo hướng Trung Lương – Cai Lậy. Khi xe lưu thông đến Km 1973 + 650m thuộc ấp Đông, xã LĐ, huyện C, tỉnh Tiền Giang do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn, bị cáo đã để xe va chạm vào phía sau xe ô tô biển số 62A- XXX.XX do anh Phan Bá T2 đang điều khiển chở chị Nguyễn Thị Th đang dừng tại làn đường sát dải phân cách tại đoạn mở dải phân cách để chuyển hướng về Trung Lương, làm cho xe ô tô 62A-XXX.XX lao về phía làn đường dành cho các phương tiện giao thông lưu thông hướng Cai Lậy – Trung Lương va chạm với xe ô tô 51F-XXX.XX do Nguyễn Văn Nh đang điều khiển tại làn đường giữa, hướng Cai Lậy – Trung Lương. Hậu quả: Nguyễn Thị Th bị thương, hư hỏng 03 xe liên quan.
Kết luận định giá tài sản số 225 ngày 12/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận:
- Giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số 62A-XXX.XX là 207.189.147 đồng.
- Giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số 51F-XXX.XX là 18.760.000 đồng.
Tổng giá trị thiệt hại của các xe nêu trên là 225.949.147 đồng
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2022/HS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 13/7/2022, bị cáo Nguyễn Hữu T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Hữu T khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Đồng thời bổ sung chứng cứ đã bồi thường cho các bị hại số tiền 70.000.000 đồng và có ý kiến giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Hữu T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 17 giờ ngày 12/10/2020, bị cáo Nguyễn Hữu T điều khiển xe ô tô biển số 68H – 000.72 lưu thông trên Quốc lộ 1 A hướng từ Trung Lương – Cai Lậy. Khi đến km 1973 + 650m thuộc ấp Đông, xã LĐ, huyện C, tỉnh Tiền Giang, do không giữ đúng khoảng cách và làm chủ tốc độ dẫn đến va chạm liên hoàn với xe ô tô 62A – XXX.XX và 51F – XXX.XX, gây thiệt hại về tài sản là 255.949.147 đồng. Do đó, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, nhận thấy: Về ý thức chủ quan bị cáo nhận thức được rằng, xe ô tô 68H – 000.72 mà bị cáo điều khiển là nguồn nguy hiểm cao độ. Vì thế, pháp luật quy định người điều khiển loại phương tiện này lưu thông trên đường công cộng phải nghiêm chỉnh chấp hành Luật giao thông đường bộ nhằm phòng trách tai nạn, gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của bản thân và những người tham gia giao thông. Thế nhưng, bị cáo đã không tuân thủ quy định pháp luật, điều khiển phương tiện trong điều kiện tầm nhìn bị hạn chế do trời mưa, đường trơn trượt, không đảm bảo khoảng cách an toàn nên đã để xảy ra tai nạn. Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng; gây thiệt hại rất lớn về tài sản của các bị hại. Vì thế, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm khắc, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra; đặc điểm nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm tù là thỏa đáng, không nặng. Song xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12 và 22/6/2022 bị cáo đã bồi thường cho các bị hại số tiền 70.000.000 đồng. Đây là tình tiết mới phát sinh trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 02/2022/HS-ST ngày 06/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh TG; - Sở tư pháp tỉnh TG; - Phòng hồ sơ CA tỉnh TG; - TAND Huyện C; - VKSND Huyện C; - Công an Huyện C; - THADS Huyện C; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Tuấn |