- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn L phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 125/2022/HS-PT Ngày: 09 – 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Tuân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế.
Ông Nguyễn Mạnh Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm, thụ lý số 93/2022/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022, do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn L đối với bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HSST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Bị cáo có kháng cáo:
Hoàng Văn L; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/7/1987; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm TC, xã CT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Hoàng Văn Ch; Con bà: Ngô Thị S; Vợ: Từ Thị N, sinh năm 1988; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án,tiền sự: Không
- Nhân thân: Tại Bản án số 62/2009/HSST ngày 21/5/2009 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Hoàng Văn L 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/6/2022 đến ngày 10/6/2022, được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.
Trong vụ án này còn có bị cáo Nguyễn Xuân H, Trần Văn H1, Hoàng Văn H2, Phạm Văn H3, Hoàng Văn H4, Hoàng Văn H5 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, vắng mặt do Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 03/6/2022, Hoàng Văn H2, Hoàng Văn L, Trần Văn H1, Hoàng Văn H4 cùng nhau ăn uống tại quán bia nhưng anh Hoàng Văn T tại xóm TC, xã CT, huyện ĐH. Đến khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, H2 rủ mọi người chơi đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền thì L, H1 và H1 đồng ý. H2 mua 01 bộ tú lơ khơ ở quán nhưng anh T rồi cùng L, H1, H1 đi ra xưởng gỗ bóc của anh T (cách quán ăn khoảng 50m) để cùng nhau đánh bạc. Đến nơi, H2, L, H1 và H1 ngồi xuống một tấm gỗ ván bóc có sẵn ở nền, H2 lọc bài tú lơ khơ để lấy 36 quân bài cho mọi người đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền.
Hình thức đánh bạc các đối tượng quy ước như sau: Sử dụng bộ tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ A đến K gồm bốn chất: Rô, cơ, tép, bích lọc bỏ hết các quân 10, J, Q, K ra, còn lấy 36 quân từ A đến 9 dùng để đánh bạc, một người chia bài (được gọi là người cầm chương) chia cho mỗi người 3 quân bài, sau đó những người chơi cầm 3 quân bài lên tính điểm, quân A được tính là 1 điểm, các quân bài từ 2 đến 9 thì tính điểm tương ứng từ 2 đến 9 điểm, rồi cộng tổng điểm của 3 quân bài; nếu tổng điểm của 3 quân bài nhỏ hơn hoặc bằng 10 thì lấy nguyên số điểm của bài, nếu tổng điểm của 3 quân bài lớn hơn 10 thì lấy điểm của bài là phần đơn vị, nếu tổng điểm của 3 quân bài là 20 thì sẽ tính là 10 điểm.
Sau khi tính điểm thì những người chơi so điểm với người cầm chương để tính thắng, thua; ai cao điểm hơn người cầm chương là thắng, nếu bằng điểm với người cầm chương thì bài của người thắng là bài có quân theo thứ tự ưu tiên về chất rô, cơ, tép, bích; Người thắng được người cầm chương trả bằng số tiền đã đặt cược, còn thua thì người cầm chương được hưởng số tiền đó.
Ngoài ra, trong mỗi ván bạc, những người tham gia đánh bạc có thể cược tiền với nhau, ai thắng thì được hưởng số tiền người thua đã đặt cược. Người nào được 10 điểm sẽ được cầm chương. Cả nhóm đánh bạc được khoảng bốn ván thì H2 không chơi nữa. Khoảng 30 phút sau có Phạm Văn H3, Hoàng Văn H5, Nguyễn Xuân H đến cùng tham gia đánh bạc.
Quá trình đánh bạc, H2 là người dùng điện thoại di động bật đèn flash soi cho mọi người chơi, H1, H5, H1 mỗi người cho H2 50.000đ, L cho 100.000đ tiền công soi đèn. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 04/6/2022 thì bị Công an huyện ĐH phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như nêu trên.
Khi đánh bạc H2 sử dụng 750.000đ, H sử dụng 1.000.000đ, L sử dụng 1.900.000đ, H1 sử dụng 1.000.000đ, H1 sử dụng 4.000.000đ, H3 sử dụng 500.000đ và H5 sử dụng 900.000đ để đánh bạc.
Vật chứng vụ án gồm: 8.100.000 (Tám triệu một trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu giữ tại chiếu bạc; 32 quân bài tú lơ khơ, 01 miếng ván làm bằng gỗ kích thước 1,26x0,65m; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A32 màu xám; 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do Hoàng Văn H2 giao nộp.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HSST ngày 14/9/2022, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Văn L 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/6/2022 đến ngày 10/6/2022. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp Ngân sách nhà nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác; xử lý vật chứng; nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Ngày 23/9/2022 bị cáo Hoàng Văn L kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận về diễn biến Hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã nêu, bị cáo xin được cải tạo tại địa phương.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Trong vụ án này, bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, số tiền đánh bạc không lớn, bị cáo L chưa có tiền án, tiền sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền phạt bổ sung và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét toàn diện vụ án thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo có nhân thân xấu nhưng phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện để được hưởng án treo, vì vậy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn L gửi trong thời hạn và đúng theo thủ tục quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 04/6/2022, tại xưởng bóc gỗ nhưng anh Hoàng Văn T ở xóm TC, xã CT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Xuân H, Hoàng Văn L, Trần Văn H1, Hoàng Văn H2, Phạm Văn H3, Hoàng Văn H4 và Hoàng Văn H5 đang đánh bạc bằng hình thức đánh “ba cây” được thua bằng tiền thì bị tổ công tác Công an huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc gồm: 8.100.000đ (Tám triệu một trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 32 quân bài tú lơ khơ, 01 miếng ván làm bằng gỗ kích thước 1,26x0,65m. Hoàng Văn H2 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A32 màu xám và 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Với Hành vi trên, bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo:
Trong vụ án này, bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, số tiền đánh bạc không lớn. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Thành khẩn khai nhận Hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền phạt bổ sung và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, mặc dù bị cáo đã có nhân thân xấu nhưng phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện để được hưởng án treo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn L, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HS-ST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Hoàng Văn L 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Đánh bạc”.
2. Giao bị cáo Hoàng Văn L cho Ủy ban nhân dân xã CT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật thi hành án hình sự.
3. Ghi nhận bị cáo Hoàng Văn L đã nộp số tiền 10.200.000đ (mười triệu hai trăm nghìn đồng) là tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm, theo Quyết định của bản án sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên (tại các biên lai thu tiền số 0002377 ngày 14/9/2022 và biên lai thu tiền số 0002378 ngày 20/9/2022 của Chi cục THADS huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Văn L không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND T. Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Đồng Hỷ; - TAND huyện Đồng Hỷ; - Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ; - Công an huyện Đồng Hỷ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Tuân |