- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Cà Văn Đ và Cà Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Về tô ̣i danh và hinh pha ̣t:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 125 /2021/HS-ST Ngày 23-8-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thanh Thúy.
2. Bà Bồ Thị Thái.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mai Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
1. Cà Văn Đ (tên gọi khác: không), sinh ngày 06 tháng 4 năm 1985 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi ĐKNKTT: Bản N, xã Phổng Lăng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Cà Văn C và bà Lò Thị Đ; bị cáo có vợ là Quàng Thị T và 02 con (con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26 tháng 4 năm 2021 đến nay, có mặt.
2. Cà Văn H (tên gọi khác: không), sinh ngày 15 tháng 9 năm 1990 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi ĐKNKTT: Bản P, xã Nậm Lầu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Cà Văn V và bà Cà Thị X; bị cáo có vợ là Cà Thị P và 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26 tháng 4 năm 2021 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 40 phút ngày 26/4/2021, tổ công tác đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế, Ma túy - Công an thành phố Sơn La phối hợp với Công an phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 04, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, phát hiện, bắt quả tang Cà Văn Đ và Cà Văn H đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc, mở ra bên trong chứa 01 viên nén màu hồng và cục bột màu trắng Cà Văn Đ tự giác lấy trong túi quần phía trước bên trái đang mặc ra giao nộp và khai nhận là Heroine và hồng phiến cất giữ để cùng với Cà Văn H sử dụng.
Quá trình điều tra, các bị cáo Cà Văn Đ và Cà Văn H khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Do bản thân có sử dụng ma túy, khoảng 21 giờ ngày 26/4/2021, sau khi ăn cơm xong Cà Văn Đ đi ra ngoài cửa lán ở tại tổ 04, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La thì gặp Cà Văn H, Đ rủ H cùng đi mua ma túy để sử dụng, H đồng ý. Đ bảo H mỗi người góp 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) để mua ma túy, nhưng H nói không có tiền và bảo Đ cứ trả trước, H sẽ trả Đ số tiền này khi có, Đ đồng ý. Sau đó, Đ và H đi bộ đến khu vực Quảng trường Tây Bắc (thuộc tổ 04, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La), đến nơi, H ngồi đợi ở khu vực Ao cá Bác Hồ, còn Đ đi tìm mua ma túy, đi được một đoạn thì Đ gặp và mua được của 01 người nam giới (không biết họ tên, tuổi và địa chỉ) 01 gói giấy bạc, bên trong chứa Hồng phiến và Heroine với số tiền là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Đ cầm gói ma túy vừa mua được quay lại chỗ H đang ngồi đợi rồi đưa cho H cầm, Hcầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái. Khi đi được khoảng 10 mét, H đưa lại gói ma túy cho Đ, Đ cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi cùng H đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ 04, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La thì bị tổ công tác đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy - Công an thành phố Sơn La phối hợp với Công an phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Ngày 27/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Cà Văn H, Cà Văn Đ khi bắt quả tang, kết quả:
01 viên nén màu hồng trong gói giấy bạc có khối lượng là 0,09 gam; lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định ký hiệu DH1.
Số cục bột màu trắng trong gói giấy bạc có khối lượng là 0,11 gam; lấy 0,04 gam làm mẫu trưng cầu giám định ký hiệu DH2.
Tại Kết luận giám định số 880 ngày 28/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
- Mẫu gửi giám định ký hiệu DH1 là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam.
- Mẫu gửi giám định ký hiệu DH2 là ma túy; loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,04 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,09 gam Loại Methamphetamine và 0,11 gam loại Heroine.
Về nguồn gốc số ma túy trong vụ án, bị cáo Cà Văn Đ khai mua của một người nam giới không biết họ tên, tuổi và địa chỉ vào ngày 26/4/2021 tại khu vực Quảng trường Tây Bắc thuộc tổ 04, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ để tiếp tục điều tra, xác minh mở rộng vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 490/CT-VKSTP ngày 03/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Cà Văn Đ và Cà Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản
1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Cà Văn Đ và Cà Văn H đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Cà Văn Đ và Cà Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bi ̣ cáo Cà Văn Đ từ 14 đến 18 tháng tù.
Xử phạt bi ̣ cáo Cà Văn H từ 13 đến 16 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Cà Văn Đ và Cà Văn H. Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 26/4/2021. Gồm: 01 vỏ phong bì trên giấy niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; DH3=0,07 gam”, mặt sau dán niêm phong số 041997, có chữ ký, họ tên của thành phần niêm phong, đối tượng bị bắt, 01 hình dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Cà Văn Đ và Cà Văn H nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát , đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Ngày 26/4/2021, các bị cáo Cà Văn Đ và Cà Văn H đã có hành vi cất giấu trái phép 0,11 gam loại Heroine và 0,09 gam loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ 4, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Lời khai nhận tội của các bị cáo;
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 50 phút ngày 26/4/2021 tại tổ 4, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La đối với Cà Văn Đ và Cà Văn H cùng vật chứng thu giữ là 01 gói giấy bạc, mở ra bên trong chứa 01 viên nén màu hồng và cục bột màu trắng có khối lượng 0,11 gam loại Heroine và 0,09 gam loại Methamphetamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 880 ngày 28/4/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1979, trú tại: Xuân Viên, Hòa Long, thành phố Bắc Ninh, tạm trú tại: Tổ 4, phường Tô Hiệu , thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang , phù hợp với kết quả điều tra.
Từ các căn cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ trái phép 0,11 gam Heroine và 0,09 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của các bị cáo Cà Văn Đ và Cà Văn H đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo Cà Văn Đ và Cà Văn H có hành vi mua 0,11 gam Heroine và 0,09 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Theo hướng dẫn tại điều 4 nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng chất ma túy, trong hai loại ma túy thu giữ của các bị cáo loại có chất heroine khối lượng là 0,11 gam và loại chất methamphetamine có khối lượng là 0,09 gam thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, nên tổng khối lượng chất ma túy thu giữ trong vụ án là 0,20 gam thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 “có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy đinh tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này” có khung hình phạt tù từ 01 năm đên 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Xét về tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án:
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác do đó cần xử lý nghiêm.
Vụ án có tính chất đồng phạm, trong đó: Bị cáo Cà Văn Đ là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Cà Văn H và cho H vay 50.000,đ (năm mươi nghìn đồng) của Đ góp tiền mua ma túy để cùng sử dụng, do đó giữ vai trò chính trong vụ án; bị cáo Cà Văn H tiếp nhận ý chí từ Đ và cùng Đ đi tìm người bán ma túy để mua, các bị cáo cố ý cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội trong trường họp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự, bị cáo H giữ vai trò đồng phạm giúp sức tích cực, do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Cà Văn Đ và Cà Văn H đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là đối tượng nghiện chất ma túy, không có điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về nguồn gốc 0,11 gam Heroine và 0,09 gam Methamphetamine bị thu giữ khi bắt quả tang, Cà Văn Đ và Cà Văn H khai mua của một người đàn ông không quen biết vào ngày 26/4/2021 tại khu vực tổ 4, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, ngoài lời khai của các bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 viên hồng phiến có tổng khối lượng là 0,09 (không phẩy không chín) gam, cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, khối lượng 0,11 gam Heroine cơ quan điều tra đã lấy 0,04 (không phẩy không bốn) gam làm mẫu gửi giám định và số ma tuý còn lại gồm 0,07 gam Heroine, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu và 01 mảnh giấy bạc. Là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, là công cụ phương tiện và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm a, c khoản 1 điêu 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về án phí: Do hành vi phạm tội của các bị cáo, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tô ̣i danh và hinh pha ̣t:
̀
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Cà Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Cà Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam, ngày 26/4/2021.
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Cà Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Cà Văn H 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam, ngày 26/4/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Cà Văn Đ và Cà Văn H. Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 26/4/2021. Gồm: 01 vỏ phong bì trên giấy niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; DH3=0,07 gam”, mặt sau dán niêm phong số 041997, có chữ ký, họ tên của thành phần niêm phong, đối tượng bị bắt, 01 hình dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14:
Buộc các bị cáo Cà Văn Đ và Cà Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh
̀ sự:
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/8/2021).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La (2); - THADS thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - THAPT (2); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà ( đã ký) Cầm Thị Thanh Huyền |