vanban.org

Bản án 125/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 11/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T và giữ nguyên bản án sơ thẩm

T bố bị cáo Hoàng Văn T ph m tội “ Xâm ph m chỗ của ng ời khác” Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo T phải nộp là 200 000đ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh S Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T và giữ nguyên bản án sơ thẩm
  • Căn cứ chính? Điều 158 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật tố t ng hình sự QUYẾT ĐỊNH; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2021/HS-PT
Ngày 19-11-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Cảnh

Ông Mai Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Quỳnh -Th ký Tòa án nhân dân t nh Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thanh Hà - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 11 năm 2021 t i tr s Toà án nhân dân t nh Nam Định xét x phúc thẩm công khai v án hình sự th lý số 98/2021/TLPT- HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 42/2021/HS-ST ngày 27-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, t nh Nam Định

- Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Văn T; sinh năm: 1974; nơi đăng ký HKTT: Xã T1, huyện T, t nh Nam Định; chỗ : Xóm 4, xã T1, huyện T, t nh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Hoàng Đình Đ (đã chết); con bà: Nguyễn Thị R (đã chết); gia đình có 9 anh chị em bị cáo là thứ 8; vợ: Nguyễn Thị M; sinh năm: 1976; có 03 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c trú từ ngày 10-5-2021. Ngày 24-5-2021 bị thay đổi biện pháp ngăn chặn hiện bị cáo đang t m giam t i Tr i t m giam Công an t nh Nam Định Có mặt

- Bị cáo không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị:

Nguyễn Thị M; sinh năm 1976; nơi đăng ký HKTT: Xã T1, huyện T, t nh Nam Định; chỗ : Xóm 4, xã T1, huyện T, t nh Nam Định.

- Bị hại: Ông Nguyễn Trung T1; sinh năm 1969 và bà Vũ Thị K; sinh năm 1967; đều c trú t i: Xóm 4, xã T, huyện T, t nh Nam Định. Có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Thế D; sinh năm 1968;

2. Bà Lê Thị Thanh H; sinh năm 1986;

Đều c trú: số 227, đ ờng Đ, ph ờng C, TP. N, t nh Nam Định. Vắng mặt

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn H; sinh năm 1976

2. Anh Vũ Đình K, sinh năm 1990

3. Ông Vũ Văn T, sinh năm 1967.

Đều c trú: Xóm 4, xã T1, huyện T, t nh Nam Định Vắng mặt.

4. Anh T Thanh Đ; sinh năm 1980; c trú: Xóm 5, xã T1, huyện T, t nh Nam Định. Vắng mặt

5. Anh Trần Đức T1; sinh năm 1994; c trú: Tổ 2, ph ờng L, TP. N, t nh Nam Định.Vắng mặt

6 Chị Nguyễn Thị B1; sinh năm 1985; c trú: Thôn Q, xã N, huyện N, t nh Nam Định Vắng mặt

7 Anh Trần Quốc T; sinh năm 1979; c trú: Xóm 7, xã xã N, huyện N,, t nh Nam Định Vắng mặt

8. Ông Hoàng Thế L; sinh năm 1960; c trú: Số 28, Bùi Xuân Mẫn, khu tái định c P, ph ờng M, TP Nam Định, t nh Nam Định Vắng mặt.

9. Chị Ph m Thị Thu M; sinh năm 1985; c trú: Đ ờng bệnh viện, thị trấn C, huyện T, t nh Nam Định Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án đ ợc tóm tắt nh sau:

Ngày 19-10-2018, Hoàng Văn T và vợ là Nguyễn Thị M thế chấp th a đất số 2836, tờ bản đồ số 3, địa ch : Đ ờng 53b xã Trực Nội đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất số BV 689456 cấp ngày 22-7-2014 do T và M đứng tên chủ s d ng đất để làm hợp đồng vay Ngân hàng TMCP Công th ơng Việt Nam - Chi nhánh Nam Định số tiền 800 triệu đồng, theo hợp đồng thế chấp số TC1568247 ngày 04-11-2015 Tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà xây 2 tầng Ngôi nhà hai tầng gia đình T, M khóa c a, không s d ng để , gia đình T, M căn nhà cùng xóm 4 xã Trực Nội cách ngôi nhà trên khoảng 100m

Tháng 9-2019 đến h n thanh toán hợp đồng với Ngân hàng, do khó khăn tài chính nên T, M vay của vợ chồng anh Trần Thế D, chị Lê Thị Thanh H1 số tiền 800 000 000đ để kết thúc hợp đồng với Ngân hàng (chị H1 chuyển khoản số tiền trên cho T, không viết giấy vay nợ) Ngày 20-9-2019, T cùng anh D đến Chi nhánh Ngân hàng TMCP Công th ơng thành phố Nam Định để kết thúc hợp đồng và nhận l i giấy chứng nhận quyền s d ng đất trên Vài ngày sau đó, T đến nhà anh D tiếp t c vay thêm của anh D, chị H1 số tiền 200 000 000đ và viết giấy vay nợ tổng số tiền vay là 1 000 000 000đ Ngày 13-5-2020 T và M thỏa thuận chuyển nh ợng quyền s d ng mảnh đất, tài sản gắn liền trên đất trên cho vợ chồng anh D, chị H1. T viết giấy bán nhà cho vợ chồng anh D, chị H1 với số tiền 1 430 000 000đ và bàn giao ngôi nhà cho vợ chồng anh D, chị H1 Tài sản trong nhà đã đ ợc gia đình T, M dọn đi tr ớc đó ch còn để l i bàn thờ gia tiên và một số đồ đ c cá nhân

Ngày 08-6-2020 T và vợ chồng anh D đến gặp anh Trần Đức T1 là cán bộ ngân hàng TMCP Công th ơng, Chi nhánh Nam Định theo dõi hồ sơ vay của Hoàng Văn T để làm thủ t c đổi “Phiếu yêu cầu xóa đăng ký” sau đó đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Trực Ninh xóa thế chấp ngân hàng đối với giấy CNQSDĐ trên Sau đó, T đón M rồi hai bên tiếp t c đến phòng công chứng Hoàng Anh thành phố Nam Định làm thủ t c chuyển nh ợng QSDĐ theo quy định, rồi T và M về nhà, còn anh D và chị H1 đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Trực Ninh làm thủ t c chuyển quyền s d ng đất và đ ợc xác nhận chuyển nh ợng, ghi thông tin thay đổi QSDĐ, không cấp GCN mới

Do không có nhu cầu s d ng, nên đầu tháng 8-2020, anh D và chị H1 treo biển bán nhà, kèm theo số Đ tho i liên hệ của chị H1 phía tr ớc c a nhà Đến giữa tháng 8-2020, anh D và chị H1 xuống nhờ T thuê thợ s a l i mái tôn tr ớc c a nhà T nhờ anh T Thanh Đ (là thợ cơ khí) làm lán tôn Chị H1 nhờ anh Đ mua ổ khóa khác về thay vào ổ khóa c a ra vào cũ của căn nhà Anh Đ gọi điện tho i cho T nói: “Chị H1 muốn thay khóa c a chính”, T nói: “Kệ họ đi” Anh Đ đã thay ổ khóa mới c a ra vào ngôi nhà và thanh toán chi phí s a lán tôn, thay khóa với chị H1 Chị H1 khóa c a ngôi nhà để quản lý

Vợ chồng chị Vũ Thị K, anh Nguyễn Trung T1 có mối quan hệ họ hàng, gọi T và M bằng cô, chú và biết ngôi nhà trên tr ớc đây là nhà của vợ chồng T, M Cuối tháng 8-2020, do có nhu cầu mua nhà , chị K thấy ngôi nhà có treo biển bán, đã liên hệ với chị H1 qua số điện tho i ghi trên biển bán nhà để đặt vấn đề mua nhà Thông qua chị H1, chị K đ ợc biết ngôi nhà đã đ ợc vợ chồng anh D, chị H1 mua l i của vợ chồng T, M. Ngày 08-10-2020, vợ chồng anh D, chị H1 đã thỏa thuận bán ngôi nhà cho chị K, anh T1 với giá 1 550 000 000đ và làm thủ t c chuyển quyền s d ng đất cho chị K. Ngày 12-10-2020 chị K đ ợc S tài nguyên môi tr ờng t nh Nam Định cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất số: CO 776500 Ngày 18-10-2020 chị K chuyển một số đồ đ c sinh ho t gồm 01 ấm Đ, 01 thùng g o, xoong nồi bát đĩa đến ngôi nhà trên, dự định đến ngày 26-10-2020, gia đình chị K sẽ chuyển đến sinh sống

Ngày 22-10-2020 T và M nghe thông tin chị K, anh T1 mua l i ngôi nhà của vợ chồng anh D, chị H1, buổi chiều cùng ngày M sang gặp chị K nói: “Mày mua nhà từ vợ chồng D H1 rồi à”, chị K nói: “Vâng, cháu mua rồi” M nói: “Sao mày mua mà mày không bảo ông bà, nhà đấy ông bà ch a bán cho ai, mày trót mua rồi thì rút tiền về” Chị K nói: “Sổ bìa đỏ đứng tên D H1, cháu mua của ng ời có sổ, sang tên bìa đỏ xong rồi” thì M đi về

Ngày 23-10-2020 T g i đơn đến CQĐT tố cáo vợ chồng anh D, chị H1 có hành vi giả m o chữ ký của gia đình anh T trong phần đăng kí xóa thế chấp và lập khống hợp đồng chuyển nh ợng để chiếm đo t quyền s d ng đất, quyền s hữu nhà và các tài sản gắn liền với th a đất trên; tố cáo cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi tr ờng huyện Trực Ninh có hành vi cấu kết với vợ chồng anh D, chị H1 để sang tên QSDĐ th a đất trên sai quy định

Khoảng 10 giờ ngày 25-10-2020, anh Nguyễn Văn H (là em trai anh T1) dùng xe kéo ch chiếc gi ờng ngủ bằng gỗ từ ngôi nhà cũ của chị K, anh T1 đem ra kê nhà mua l i nêu trên giúp chị K. Khi anh H đang khiêng gi ờng vào nhà thì T đi đến gặp anh H nói: “Chúng mày chuyển cái gì đấy” Anh H nói: “Chị K nhờ cháu kê cho cái gi ờng ngủ” T nói: “Nhà này tao ch a bán, đừng vội kê vào” Anh H nói: “Cháu không biết, cháu đ ợc chị K bảo kê gi ờng vào nhà, nhà này chị K mua rồi, đã sang tên xong xuôi” và tiếp t c chuyển gi ờng vào nhà, còn T đi về

Buổi chiều cùng ngày, M đi ph xe khách về thấy gia đình chị K đã chuyển đồ vào trong nhà, M điện tho i nói cho T biết T nói với M đem bỏ hết đồ đ c chị K đem đến ra ngoài Khoảng 16 giờ cùng ngày, chị K khóa c a nhà đi đón con, lúc này ngôi nhà không có ai. M cầm theo 02 chiếc khóa dây đi sang m c đích khóa c a ngôi nhà l i, không cho chị K hay ng ời Kc vào nhà. M biết c a sau ngôi nhà bị hỏng khóa nên trèo qua t ờng bao phía sau rồi đi vào từ c a sau ngôi nhà Sau đó, M m c a đ i hội từ phía trong nhà, rồi bê đồ đ c của chị K để ra ngoài c a Khi M đang chuyển đồ thì T đến, đi luôn lên tầng 2 ngôi nhà kiểm tra ban thờ gia tiên còn g i l i thấy vẫn còn nguyên vẹn. Ngay lúc này, có chị Nguyễn Thị B1 và anh Trần Quốc T (là b n của vợ chồng T) đi đến Thấy M đang kéo chiếc gi ờng từ trong nhà ra ngoài, anh T cùng M khiêng chiếc gi ờng để ra ngoài đ ờng tr ớc c a nhà, chị B1 cũng cầm xô, chậu của chị K trong nhà để ra tr ớc c a nhà T từ tầng 2 đi xuống thấy có 02 chiếc khóa dây của nhà mình để trên nền nhà do M mang đến T bảo M khóa c a sau, còn T cầm 01 chiếc khóa dây dùng khóa đập vỡ 02 ô kính trên cánh c a ra vào tr ớc nhà để khóa c a l i, m c đích không để cho chị K vào s d ng ngôi nhà Sau đó T, M cùng chị B1 và anh T đi ăn giỗ huyện Giao Thủy

Sáng ngày 26-10-2020, Công an xã Trực Nội đến yêu cầu T, M bàn giao l i ngôi nhà cho gia đình chị K Nh ng T và M không chấp hành M dùng 01 đo n dây sích bằng sắt và 01 ổ khóa đem đến khóa thêm vào c a ra vào phía tr ớc ngôi nhà

Ngày 11-3-2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Trực Ninh kết thúc việc giải quyết tin tố giác về tội ph m và ra quyết định không kh i tố v án hình sự đối với tố giác của Hoàng Văn T và nhiều lần yêu cầu T, M chấm dứt việc chiếm giữ ngôi nhà bàn giao ngôi nhà l i cho gia đình chị Vũ Thị K để s d ng Nh ng T và M không chấp hành Đến ngày 27-5-2021 M đã tự nguyện chuyển đồ đ c của gia đình M trong ngôi nhà của chị K ra ngoài, sau đó bàn giao l i ngôi nhà cho chị K. Quá trình bàn giao nhà M đã làm mất 02 chiếc khóa dây, 01 dây xích sắt, 01 ổ khóa mà T và M s d ng để khóa c a chiếm giữ ngôi nhà, nên Cơ quan CSĐT không thu giữ đ ợc để x lý theo quy định

Bản kết luận định giá số 06/KLĐG ngày 09-2-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện Trực Ninh xác định giá trị 02 ô kính trên c a đ i hội bị T đập vỡ vào ngày 25-10-2020 là 45 000đ.

Chị Nguyễn Thị B1 và anh Trần Quốc T có hành vi giúp T và M chuyển đồ đ c, tài sản của chị K trong nhà ra ngoài vào ngày 25-10-2020, nh ng chị B1 và anh T không biết việc T, M đã bán nhà cho ng ời Kc và có ý T1 chiếm giữ ngôi nhà nên không ph m tội

* Về số tiền vợ chồng T, M vay của vợ chồng anh D, chị H1 sau đó phát sinh việc giao dịch chuyển nh ợng mảnh đất:

CQĐT đã tiến hành xác minh làm rõ: Ngày 13-5-2020, T và M thỏa thuận chuyển nh ợng quyền s d ng mảnh đất, tài sản gắn liền trên đất trên cho vợ chồng anh D, chị H1; viết giấy biên nhận bán ngôi nhà cho vợ chồng anh D, chị H1 với số tiền 1 430 000 000đ. Anh D, chị H1 đã thanh toán cho T, M số tiền 1 430 000đồng, nhận bàn giao ngôi nhà và làm thủ t c chuyển nh ợng quyền s d ng đất theo đúng quy định pháp luật Nội dung T, M khai không bán ngôi nhà cho vợ chồng anh D, chị H1 và còn nợ anh D, chị H1 1 430 000 000đồng không có căn cứ

Ngoài ra T, M khai: Từ tháng 9-2019 có vay của vợ chồng anh D chị H1 tổng sổ tiền 01 tỷ đồng và thỏa thuận lãi xuất là 60 triệu đồng/01 tỷ/01 tháng, t ơng đ ơng 72%/01 năm; đến tháng 5-2020, anh D yêu cầu T, M chốt số tiền vay cả gốc và lãi tổng là 1 420 000 000đồng Số tiền lãi xuất là 420 000 000đồng T, M không có tài liệu chứng cứ nào để chứng minh

Theo anh D, chị H1 khai: Tháng 9-2019, T vay của D, H1 800 triệu để thanh lý hợp đồng vay ngân hàng Sau khi vay tiền thì 2-3 ngày sau đó T đã đem trả đủ cho anh D số tiền 800 triệu đồng Việc vay nợ không tính lãi suất Do vậy không có đủ cơ s để kết luận nội dung này để x lý

Quá trình đột nhập chiếm giữ ngôi nhà của gia đình chị Vũ Thị K Bị cáo T đã đập vỡ 02 ô kính c a ra vào nhà chị K trị giá 45 000đồng Gia đình chị K đã tự s a chữa thay mới để s d ng, chị K, anh T1 không yêu cầu T bồi th ờng thiệt h i về tấm kính, cũng không có yêu cầu bồi th ờng gì khác trong thời gian bị chiếm giữ ngôi nhà Công an huyện Trực Ninh đã ra quyết định x ph t hành chính đối với T về hành vi cố ý làm h hỏng tài sản theo quy định t i điểm a, khoản 2, điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ

T i bản án hình sự sơ thẩm số 42/2021/HS-ST ngày 27-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, t nh Nam Định đã quyết định.

T bố bị cáo Hoàng Văn T ph m tội “ Xâm ph m chỗ của ng ời khác” Căn cứ khoản 1 Điều 158, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 BLHS X ph t Hoàng Văn T 12(m ời hai) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày, bị cáo bị t m giữ, t m giam 24-5-2021.

Ngoài ra, bản án còn T ph t bị cáo Nguyễn Thị M 06 tháng tù nh ng cho h ng án treo thời gian th thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Tuyên án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 06-9-2021 bị cáo Hoàng Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t

T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo và trình bày cấp sơ thẩm xét x bị cáo về tội xâm ph m chỗ của ng ời khác là đúng ng ời, đúng tội; đề nghị Hội đồng xét x xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo với lý do gia đình bị cáo có công với cách m ng và có công trong việc xây dựng nông thôn mới, để bị cáo sớm đ ợc tr về với gia đình, hòa nhập với cộng đồng, là ng ời có ích cho xã hội

Bà Vũ Thị K và ông Nguyễn Trung T1 trình bày: Ông bà đã nhận chuyển nh ợng nhà và đất th a số 2836 tờ bản đồ số 3 t i xã Trực Nội huyện Trực Ninh, t nh Nam Định của vợ chồng anh Trần Thế D và bà Lê Thị Thanh H1 và đã đ ợc S Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Nam Định cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất, gia đình ông bà đã chuyển một số đồ đ c đến nh ng bị chuyển ra ngoài, T và M đã chiếm giữ nhà của ông bà đến ngày 27-5-2021 ông bà mới nhận l i và hiện nay gia đình ông bà đang quản lý ngôi nhà

Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Nam Định kết luận v án: Cấp sơ thẩm x bị cáo Hoàng Văn T về tội “Xâm ph m chỗ của ng ời Kc” theo khoản 1 Điều 158 BLHS là đúng ng ời, đúng tội Bị cáo đã chiếm giữ ngôi nhà của vợ chồng bà K từ ngày 25 tháng 10 năm 2020 đến ngày 27 tháng 5 năm 2021 mới bàn giao cho bị h i, cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất hành vi ph m tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ấn định mức hình ph t 12 tháng tù là phù hợp T i phiên tòa bị cáo trình bày lý do xin giảm nhẹ hình ph t không đ ợc chấp nhận Án phí hình sự phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật

Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi ph m tội đề nghị Hội đồng xét x xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã đ ợc tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định nh sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong h n luật định, đ ợc Hội đồng xét x xem xét theo trình tự tố t ng phúc thẩm

Xét kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T: Lời khai của bị cáo T t i phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo T t i cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo M. Căn cứ vào lời khai bị h i t i cơ quan điều tra và t i phiên tòa phúc thẩm, lời khai của những ng ời làm chứng và những tài liệu chứng cứ khác thu thập l u hồ sơ v án có đủ cơ cơ s kết luận: Ngày 25/10/2020 Hoàng Văn T đã có hành vi kh i x ớng việc chuyển đồ đ c, tài sản của vợ chồng bà Vũ Thị K và ông Nguyễn Văn T1 ra khỏi ngôi nhà thuộc quyền s hữu của vợ chồng chị K có địa ch t i xóm 4, xã T, huyện T, t nh Nam Định và khóa c a ngôi nhà nhằm chiếm giữ không cho vợ chồng bà K vào nhà của mình. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Xâm ph m chỗ của ng ời khác” theo khoản 1 Điều 158 BLHS nh cấp sơ thẩm đã xét x là đúng ng ời, đúng tội

Căn cứ vào hành vi ph m tội của bị cáo, cấp sơ thẩm xếp bị cáo T giữ vai trò đầu trong v án và đã xem xét đến tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, x ph t bị cáo T 12 tháng tù là phù hợp T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo đ a ra các tình tiết giảm nhẹ là gia đình bị cáo có công với cách m ng và có công trong việc xây dựng nông thôn mới, đề nghị Hội đồng xét x giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo không chấp nhận

Do giữ nguyên bản án sơ thẩm bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét x phúc thẩm không xem xét

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố t ng hình sự

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T và giữ nguyên bản án sơ thẩm

1. T bố bị cáo Hoàng Văn T ph m tội “ Xâm ph m chỗ của ng ời khác”

2. Căn cứ khoản 1 Điều 158, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 BLHS X ph t Hoàng Văn T 12 (m ời hai) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày 24-5-2021.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo T phải nộp là 200 000đ

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án Thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự N i nh n:

TM HỘI Đ NG XÉT X PHÚC THẨM

- Bị cáo;

Cỡ chữ