- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Trọng N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số:125/2020/HS-ST Ngày: 04 - 12 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Vi Thanh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Thái Quang Định
bà Phạm Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Viết Tâm - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2020/TLST- HS ngày 19 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2020/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 11 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Trọng N, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2001 tại huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 4, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Trọng T và bà Trần Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/8/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ Ông Bùi Văn P, sinh năm 1966. Địa chỉ: Tổ 3, khu Hiệp An 1, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.
+ Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1965. Địa chỉ: Tổ 1, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 25/8/2020, Đỗ Văn T (Sinh năm 2002, trú tại: Thôn 4, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng) đến nhà N chơi và rủ N đi mua ma túy về để cùng sử dụng, N đồng ý. Tấn điện thoại cho 01 người nào đó hỏi mua 400.000 đồng ma túy đá, sau đó T điều khiển xe mô tô BKS 15G1-661.19 của gia đình N chở N đi đến 01 ngõ nhỏ thuộc phường P, thành phố U. Tại đây, Tấn gặp 01 người thanh niên và mua của người này 01 gói ma túy, T đưa gói ma túy cho N cầm rồi cả 2 đi về. Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực tổ 2, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh thì T dừng xe đi bộ vào 01 quán nước để mua thuốc lá, còn N chờ ngoài xe. Ngay lúc này N bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ của N: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu đỏ, BKS 15G1-661.19. Còn đối tượng T chạy thoát.
Tại bản Kết luận giám định số 1194/KLGĐ ngày 30/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,188g (không phẩy một tám tám gam).
Tại bản Cáo trạng số: 131/CT – VKSUB ngày 18 tháng 11 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố Vũ Trọng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Vũ Trọng N khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Người làm chứng ông Bùi Văn P và ông Đỗ Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai thể hiện trong hồ sơ về thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án, đối tượng liên quan và vật chứng thu giữ của vụ án phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Trọng N với mức hình phạt từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tình từ ngày bắt.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1194/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong đựng ma túy thu giữ của bị cáo, được hoàn lại sau giám định
Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát; Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng: Những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và hình phạt:
2.1 Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 25/8/2020, tại tổ 2, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Trọng N bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,188 gam (không phẩy một tám tám gam) ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, truy tố bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
2.2 Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thấy rằng bị cáo nhận thức được việc tàng trữ ma túy là trái với quy định pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Vì vậy, cần phải có hình phạt phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng cũng như để tăng cường phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu đỏ, BKS 15G1-661.19 thuộc sở hữu của ông Vũ Trọng T cho Nhân mượn, ông T không biết Nhân sử dụng xe để đi mua ma túy nên cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu, do vậy không đề cập giải quyết.
01 phong bì niêm phong số 1194/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong đựng ma túy thu giữ của bị cáo, được hoàn lại sau giám định thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với Đỗ Văn T đi mua ma túy cùng N nhưng hiện không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với người thanh niên bán ma túy hiện không rõ lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Trọng N 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 25 tháng 8 năm 2020.
2. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 1194/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng được mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 11 năm 2020 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Trọng N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Vũ Trọng N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Thị Dung Thái Quang Định
Vi Thanh Hà
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố Uông Bí; - Công an thành phố Uông Bí; - Chi cục THADS thành phố Uông Bí; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vi Thanh Hà THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Thanh Hà |