vanban.org

Bản án 125/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 31/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn B 16 (mười sáu) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày 09/7/2019. 2- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Biên tàng trữ ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 125/2019/HSST
Ngày 31 tháng 10 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thành Vân

2. Ông Lò Văn Thôn

- Thư ký phiên toà:

Bà Hoàng Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 119/2019/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Văn B - Sinh năm 1982; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản T, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Đỗ Văn B, con bà Nguyễn Thị X; Có vợ là Lò Thị V, có 02 con chung (lớn nhất sinh năm 2007, bé sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2012 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục lao động tỉnh Sơn La.

Bị cáo bị tạm giữ, giam từ 09/7/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 05 phút ngày 09/7/2019 tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Ban công an xã Mường Hung, huyện Sông Mã đến nhà Đỗ Văn B yêu cầu Biên đến Trụ sở UBND xã để làm test thử ma túy theo phiếu tố giác, B đã tự nguyện giao nộp 01 mảnh viên nén màu hồng và 01 cục bột liên kết màu trắng được gói trong mảnh giấy bạc, B khai nhận là Hồng phiến và Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Ngày 10/7/2019 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng, trích mẫu giám định, kết quả: 01 mảnh viên nén màu hồng có khối lượng 0,01 gam, đã trích hết 0,01 gam làm mẫu giám định ký hiệu B1. Số chất bột màu trắng có khối lượng 0,15 gam, đã trích hết 0,15 gam làm mẫu giám định ký hiệu B2.

Tại bản kết luận giám định số 1266 ngày 16/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu B1 là ma túy; loại methamphetamine, tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,01 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu B1 là ma túy; loại Heroine, tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,15 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,01 gam loại methamphetamine và 0,15 gam loại Heroine.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 08/7/2019 B đi xe mô tô từ nhà lên bản Bướm Ỏ, xã Chiềng Khoong mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Đi đến nơi B gặp 1 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đi bộ ngược chiều, B dừng xe lại và hỏi mua ma túy thì được người này bán cho 01 mảnh viên nén màu hồng và 01 cục Heroine nhỏ với giá 50.000đ. Mua bán xong B đi về nhà và lấy một ít Heroine trộn với một ít Hồng phiến ra sử dụng, số còn lại B gói vào tờ giấy bạc và cất đi. Đến khoảng 08 giờ ngày 09/7/2019 thì Tổ công tác Công an huyện Sông Mã và Ban công an xã Mường Hung đến làm việc, B đã tự nguyện giao nộp số ma tuý đang cất dấu.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 120/CT-VKSSM ngày 27 tháng 9 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Đỗ Văn B về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Đỗ Văn B từ 16 - 20 tháng tù. Buộc bị cáo chịu án phí hình sự; tuyên quyền kháng cáo.

Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 09/7/2019, bắt quả tang Đỗ Văn B có hành vi cất dấu 0,01 gam loại methamphetamine và 0,15 gam loại Heroine.

- Vật chứng bị thu giữ gồm 01 mảnh viên nén màu hồng, và 0,15 gam chất bột màu trắng; Kết luận giám định số 1266 ngày 16/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu B1 là ma túy, loại methamphetamine, có khối lượng 0,01gam; Mẫu gửi giám định ký hiệu B2 là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,15 gam".

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/7/2019 bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,01gam methamphetamine và 0,15 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS Hội đồng xét xử thấy: Theo hướng dẫn tại mục I phụ lục kèm theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự, thì tổng khối lượng 02 chất ma túy Heroine, Methamphetamine tương đương với khối lượng Heroine, Methamphetamine quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như vậy trường hợp này tổng khối lượng của 02 chất ma túy Heroine, Methamphetamine thuộc thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự: “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”. Do vậy không chấp nhận Quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự để xử phạt đối với bị cáo.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số ma túy đang cất giấu nên thuộc trường hợp tự thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là hộ nghèo, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về đối tượng người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo, vì bị cáo chỉ gặp ngoài đường, không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ mở rộng điều tra vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về vật chứng vụ án: Đối với phong bì niêm phong vật chứng ban đầu cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

1- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn B 16 (mười sáu) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày 09/7/2019.

2- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh giấy bạc và 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở (các vật chứng được đưng trong phong bì được niêm phong).

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2019 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4 - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 31/10/2019./.

Cỡ chữ