vanban.org

Bản án 125/2019/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 16/08/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận đơn kháng cáo của chị Nguyễn Lan A.

Sửa ản án sơ thẩm : 15/2019/HNGĐ-ST Ngày 16/4/2019 Của Tòa án nhân dân Quận Ba đình Công nhận thuận tình ly hôn của anh Trần Huy Avà chị Nguyễn Lan A Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Huy A - Nguyễn Lan A"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận đơn kháng cáo của chị Nguyễn Lan A.
  • Căn cứ chính? Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2019/HNGĐ-PT
Ngày 16/8/2019
V/v: Tranh chấp HNGĐ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

- Các thẩm phán : Ông Lê Trí Cường, Bà Bùi Thị Thu Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên Tòa: Bà Bùi Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà nội xét xử Phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 84/2019/TLPT-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2019 về : “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vu án ra xét xử số 149/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19/7/2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Trần Huy A- sinh năm 1990 HKTT: Phòng 4 B5 tập thể Giảng Võ, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội

Nơi ở: Số 7 Lý Nam Đế, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm,thành phố Hà Nội

* Bị đơn: Chị Nguyễn Lan A– sinh năm 1993 HKTT và nơi ở: Số 20 ngõ 133 Tân Ấp, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 20/8/2018 cùng bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là anh Trần Huy Atrình bày:

- Về tình cảm: Anh và chị Nguyễn Lan A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Giảng Võ, quận Ba Đình,thành phố Hà Nội vào ngày 27/2/2017.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh Huy Atại địa chỉ: Số 7 Lý Nam Đế, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng tháng 8/2017, thì phát sinhmâu thuẫn do bất đồng cuộc sống thương xuyên va chạm .Vào thời điểm khoảng giữa tháng 7/2018, vợ chồng có đi ra ngoài thuê nhà riêng.Tuy nhiên, chỉ 1 thời gian ngắn giữa vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn .

Do mâu thuẫn giữa vợ chồng trở nên căng thẳng, nên cả hai đã sống ly thân từ ngày 08/2018. Khi sống ly thân chị Lan A về nhà bố, mẹ đẻ của chị tại Số 20 ngõ 133 Tân Ấp, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, Hà Nội ở, còn anh Huy Athì về nhà bố mẹ đẻ tại: Số 7 Lý Nam Đế, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm,thành phố Hà Nội ở cho đến nay. Anh có nguyện vọng xin ly hôn

- Về con chung: Vợ chồng 01 con chung là Trần Tâm A, sinh 09/06/2017, hiệntại cháu đang ở với anh Huy Anh.

Khi ly hôn, anh Huy Axin được nuôi con chung và không yêu cầu chị Lan A đóng góp tiền nuôi con chung. Việc chị Lan A muốn nuôi con chung thì tôi thấy hiện nay sức khỏe của chị vẫn đang yếu, bố mẹ đẻ của chị thì già yếu nên khó có thể chăm sóc cháu bé, vì cháu bé từ khi sinh ra đến nay vẫn chủ yếu là do bố, mẹ tôi chăm sóc.

Hiện tại anh Huy Ađang làm nhân viên tại Công ty TNHH MTV ứng dụng kỹ thuật và sản xuất Teca Pro, mức lương chính là 7.000.000 đồng / tháng, ngoài ra anh còn có tiền thưởng và các khoản tiền phụ cấp khác, tổng cộng khoảng gần 15.000.000đồng/tháng. Trường hợp Tòa án xử cho chị Lan A được nuôi con chung thì anh xin đóng góptiền nuôi con chung là 3.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nhà ở chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nhà ở

chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về khoản nợ chung: Vợ chồng không cùng vay nợ ai, không cùng cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Trong bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là chị Nguyễn Lan A trình bày:

- Về tình cảm: Chị Nguyễn Lan A xác nhận lời trình bày của anh Huy Avề quá trình tìm hiểu dẫn tới hôn nhân của vợ chồng anh là hoàn toàn đúng.

Sau khi kết hôn vợ chồng anh về chung sống cùng gia đình nhà bố mẹ đẻ anh tại địa chỉ: Số 7 Lý Nam Đế, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.Về mâu thuẫn của vợ chồng: Theo chị Lan A thì vợ chồng chị cũng có lúc vui,lúc buồn , có hòa thuận, và có lúc bất hòa xảy ra mâu thuẫn. Những lý do anh Huy Ađưa ra để ly hôn chị có cái đúng, có cái chưa đúng, chị tiếp thu những ý kiến đó và lấy làm bài học kinh nghiệm cho cuộc sống sau này.. Chị Lan A vẫn mong muốn chồng và gia đình chồng cho chị cơ hội để sửa chữa và khắc phục lại những sai lầm thiếu sót của mình, mong anh Huy Asuy nghĩ lại cho chị thêm cơ hội để thay đổi bản thân. Mặt khác, chị vẫn còn tình cảm với anh Huy Avà không muốn con chị thiếu sự quan tâm chăm sóc của bố hay mẹ vì vậy chị Lan A không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Tâm A, sinh 09/06/2017,

hiện tại cháu đang ở với anh Huy Anh.Khi ly hôn, chị Lan A có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh Huy Ađóng góp tiền nuôi con chung. Chị đồng ý để anh Huy Anuôi con vì tính chất công việc của anh Huy Arất bận không có thời gian chăm sóc con chung. Việc hiện nay chị để anh Huy Anuôi con chung là vì chị đang cần thời gian phục hồi sức khỏe. Tuy nhiên giữa chị và anh Huy Asẽ có thỏa thuận cụ thể lại về việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung

Hiện tại chị Lan A đang làm nhân viên văn phòng tại Bệnh viện phụ sản Trung ương, thu nhập là 7.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nhà ở chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nhà ở

chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về khoản nợ chung: Vợ chồng không cùng vay nợ ai, không cùng cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản án : 15/2019/HNGĐ-ST

Ngày 16/4/2019 Của tòa án nhân dân Quận Ba đình đã xét xử và quyết định Áp dụng Điều 56, 58; 59; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1

Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 điều 39; Điều144; khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015, Điều 27 khoản 5a Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: 1.Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Trần Huy A: anh Trần Huy Ađược ly hôn với chị Nguyễn Lan A.

2. Về con chung : Anh Trần Huy Avà chị Nguyễn Lan A có 01 con chung là Trần Tâm A, sinh ngày 09/06/2017. Giao cháu Trần Tâm A cho anh Trần Huy Atrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Lan A cho đến khi anh Huy Acó yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác của pháp luật.

Chị Nguyễn Lan A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nhà ở chung và khoản nợ chung: Anh Trần Huy Avà chị Lan A không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Ngoài ra bản án tuyên về án phí và quyền kháng cáo

Không nhất trí quyết định của Tòa án sơ thẩm về nhận định mâu thuẫn vợ chồng và gia đình nên chị Lan A kháng cáo.

Tại cấp phúc thẩm chị Lan A đề nghị thuận tình ly hôn và thống nhất thỏa thuận để anh Huy Atrực tiếp nuôi con chung là cháu Trần Tâm A, sinh 09/06/2017. Chị Lan A đóng góp phí tổn nuôi dưỡng con 2.500.000 đ từ tháng 8 năm 2019 và có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung.

Phía anh Huy Anhất trí ý kiến của chị Lan A : Đồng ý thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi dưỡng con chung

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và những người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

*Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán , Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ Luật Tố Tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã được

thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.

- Tòa án thụ lý , tống đạt và xét xử phúc thẩm trong hạn luật định

* Ý kiến của đại diện viện kiểm sát về nội dung : Sau khi phân tích,đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ .Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.- Đề nghị sửa án sơ thẩm : Công nhận thuận tình ly hôn anh Trần Huy Avà chị Nguyễn Lan A

Về con : ghi nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự giao con chung là Trần Tâm A cho anh Huy Atrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị Lan A đóng góp phí tổn cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000đ ( hai triệu năm trăm nghìn đồng ) 1 tháng kể từ tháng 8 năm 2019 cho đến khi cháu Trần Tâm A đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật..

Chị Nguyễn Lan A có quyền đi lại, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung, nhà ở chung và khoản nợ chung : Vợ chồng không có tài sản chung và nhà ở chung và khoản nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sợ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhËn ®Þnh:

* Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Lan A trong hạn luật định

* Về nội dung:

Anh Trần Huy Avà chị Nguyễn Lan A kết hôn với nhau trên cơ sở tự

nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Giảng Võ, quận Ba Đình,thành phố Hà Nội vào ngày 27/2/2017. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình bố, mẹ đẻ của anh HuyAnh tại địa chỉ: Số 7 Lý Nam Đế, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.3] Căn cứ các tài liệu có trong hồ vụ án cho thấy: Mâu thuẫn của vợ chồng anh Huy Anh, chị Lan A phát sinh từ khoảng tháng 8/2017, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống.Tại Tòa án cấp phúc thẩm hai bên thông nhất thuận tình nên cần chấp nhận.

Về con chung: Anh Huy Avà chị Lan A có 01 con chung là: Trần Tâm A, sinh 09/06/2017 hiện tại cháu đang ở với anh Huy Anh.

Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Trần Tâm A dưới 36 tháng tuổi, lẽ ra cháu được giao cho mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, tuy nhiên cả chị Lan A và anh Huy Ađều xácnhận hiện nay cháu bé đang ở cùng với anh Huy Avà ông, bà nội. Lý do chị Lan A đồng ý đề con cho anh Huy Anuôi cũng là vì muốn có thời gian để phục hồi sức khỏe, chị cũng tin tưởng vào việc nuôi con của anh Huy Anên chị nhất trí giao con chung cho anh Huy Atrực tiếp nuôi dưỡng. Thỏa thuận nuôi con của chị Lan A là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của anh Huy Anh, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận và giao con chung cho anh Huy Atrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lan A có ý kiến là hàng tháng chị sẽ có trách nhiệm, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000đ / 1 tháng được ghi nhận

Chị Nguyễn Lan A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản

Về tài sản, nhà ở chung và khoản nợ chung: Hai bên không có tài sản chung,nhà ở chung và khoản nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí LHST: Anh Trần Huy Aphải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Lan A không phải chịu 300,000 án phí phúc thẩm và được hoàn lạidự phí kháng cáo .

Vì các lẽ trên: điều 308 , 147 Bộ luật tố tụng dân sự

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 55, 56, 58; 59; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015, Điều 27 khoản 5a Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn kháng cáo của chị Nguyễn Lan A.

Sửa ản án sơ thẩm : 15/2019/HNGĐ-ST Ngày 16/4/2019 Của Tòa án nhân dân Quận Ba đình

1. Công nhận thuận tình ly hôn của anh Trần Huy Avà chị Nguyễn Lan A

2. Về con chung: Anh Trần Huy Avà chị Nguyễn Lan A có 01 con chung là Trần Tâm A, sinh 09/06/2017, Công nhận sự thỏa thuận của anh Trần Huy Avà chị Nguyễn Lan A, giao con chung Trần Tâm A cho anh Trần Huy Atrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Lan A có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000đ ( hai triệu năm trăm nghìn đồng ) 1 tháng kể từ tháng 8 năm 2019 cho đến khi cháu Trần Tâm A đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Lan A có quyền, đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nhà ở chung và khoản nợ chung: Anh Trần Huy Avà chị Nguyễn Lan A xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, nhà ở chung và khoản nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

4. Về án phí LHST: Anh Trần Huy Aphải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008679 ngày 05/9/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Chị Lan A được hoàn lại 300.000đ án phí phúc thẩm tại biên lai số 0005439 ngày 01/05/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/8/2019

Cỡ chữ