- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị Tuyến - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 125/2018/HSST Ngày 25-07-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Miện
Bà Hoàng Thị Lê Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 07 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2018/HSST ngày 01 tháng 06 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2018/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 07 năm 2018, đối với bị cáo:
Võ Thị T (tên gọi khác: Kim), sinh ngày 01-09-1997 tại Tây Ninh; nơi đăng ký HKTT: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nơi ở: Số 3D3 P, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: quản lý; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt N; con ông Võ Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị T; chung sống như vợ chồng với Ngô Duy Th, có một con sinh năm 2014; tiền sự, tiền án: không; bị bắt ngày 01 tháng 02 năm 2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Võ Thị T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số 489A/23A/5 H, Phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh ( có mặt).
2. Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số 512/1 T, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).
3. Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số 3D3 P, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).
Người làm chứng: Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số 3D3 P, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 45 phút ngày 01-02-2018, các cơ quan chức năng kiểm tra và bắt quả tang hai cặp N nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại cơ sở Massage Hoàng Mai số 3D3 P, Phường C, thành phố V; cụ thể như sau:
- Tại phòng số 3: Người mua dâm Võ Hoài Th, người bán dâm Nguyễn Thị Ngọc H. Vật chứng thu giữ gồm: 01 bao cao su đã qua sử dụng, 500.000đ ( là tiền mua bán dâm).
- Tại phòng số 4: Người mua dâm Nguyễn Thanh T, người bán dâm Nguyễn Thị Kiều O. Vật chứng thu giữ gồm: 01 bao cao su đã qua sử dụng, 400.000đ ( là tiền mua bán dâm).
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 20 giờ ngày 01-02-2018, Võ Thị T đang quản lý tại cơ sở Massage Hoàng Mai - số 3D3 P, Phường C, thành phố V ( do chị Võ Thị T làm chủ) thì có ba người khách gồm: Võ Hoài Th, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Tuấn N đến cơ sở Hoàng Mai massage, mua vé massage mỗi người 100.000 đồng. T bố trí Nguyễn Thị Ngọc H phục vụ Võ Hoài Th ở phòng số 3; Nguyễn Thị Kiều O phục vụ Nguyễn Thanh T ở phòng số 4; Nguyễn Thị Ngọc L phục vụ Nguyễn Tuấn N ở phòng số 6. Trong quá trình massage, O và H thỏa thuận bán dâm cho Th và T với giá 400.000 đồng/1 lần/1 người, riêng Th bo thêm cho H 100.000 đồng.
Võ Thị T khai nhận: T được chị Võ Thị T giao nhiệm vụ quản lý tại cơ sở massage Hoàng Mai từ khoảng tháng 12-2017. T giao T quyền quản lý cơ sở massage cho T, còn T sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, hằng tháng T chỉ xuống lấy tiền thu chi massage của cơ sở. Sau khi được giao T quyền quản lý, T tự ý cho phép nhân viên nữ và cả mình bán dâm, kích dục tại cơ sở massage Hoàng Mai nếu khách có yêu cầu. Nhân viên nữ tại cơ sở không được trả lương hay phần trăm tiền vé massage (mỗi vé 100.000đ) mà chỉ được hưởng số tiền bán dâm, kích dục cho khách nếu khách có yêu cầu hoặc tiền khách bo. Hàng tháng nhân viên phải đóng 500.000 đồng tiền vệ sinh cơ sở. Ngoài ra, T còn quy định nếu nhân viên kích dục, bán dâm cho người khách thứ hai trong ngày thì mỗi khách phải đóng cho T 50.000 đồng, số tiền này T hưởng lợi cá nhân. Do T và T là chị em ruột nên T không lấy tiền lương, tuy nhiên khi nào cần tiền thì sẽ lấy tiền của T.
Võ Thị T xác định giao T quyền quản lý cơ sở massage Hoàng Mai cho em gái là Võ Thị T, T không trả lương cho T nhưng khi nào T cần tiền thì T sẽ cho. Võ Thị T không biết T cho phép nhân viên massage bán dâm, kích dục cho khách tại cơ sở, nên Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiện hình sự đối với Võ Thị T.
Người mua dâm Võ Hoài Th và Nguyễn Thanh T lợi dụng sơ hở bỏ trốn, Cơ quan điều tra xác minh làm rõ xử lý sau theo quy định pháp luật.
Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính Nguyễn Thị Ngọc H và Nguyễn Thị Kiều O về hành vi bán dâm, mỗi người 200.000 đ.
Bản cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 25-05-2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố Võ Thị T về tội “Chứa mại dâm” theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức án từ 05 đến 06 năm tù.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận T bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh. Bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo xác định vào ngày 01-02-2018, tại cơ sở Massage Hoàng Mai số 3D3 P, Phường C, thành phố V; bị cáo đã cho phép hai nhân viên nữ Nguyễn Thị Ngọc H và Nguyễn Thị Kiều O thỏa thuận giá và bán dâm ngay tại cơ sở kinh doanh do bị cáo có nhiệm vụ trực tiếp quản lý nhằm mục đích thu lợi bất chính. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa phù hợp với lời khai của người mua dâm và người bán dâm, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015 với tình tiết định khung hình phạt là phạm tội 02 lần trở lên và hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 4.1 mục 4 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12-05-2006 của Tòa án nhân dân tối cao.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm theo quy định pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú về hành vi phạm tội trước đó. Nên xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về xử lý vật chứng:
- 04 bao cao su đã sử dụng, 01 hộp khăn giấy; không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy;
- Số tiền 900.000 đ là tài sản liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không xác định được khoản tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán dâm nên không có căn cứ để tịch thu sung quỹ và xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí : Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
́
QUYÊT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị T phạm tội “Chứa mại dâm”.
2. Áp dụng : Điểm c khoản 2 Điều 327; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt Võ Thị T 05 (năm ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 02 năm 2018.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy 04 bao cao su đã sử dụng, 01 hộp khăn giấy;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 900.000 đ (chín trăm ngàn đồng).
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 126/BB.THA ngày 01-06-2018 và Biên lai thu tiền số 0009410 ngày 01-06-2018.
3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm ) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( PV27); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND thành phố V; - Công an thành phố V; - Thi hành án dân sự thành phố V; - Nhà tạm giữ Công an thành phố V; - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Thanh Hảo |