- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 125/2018/HS-ST Ngày 20 - 9 - 2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Chí Trung.
2. Ông Trịnh Văn Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 119/2018/TLST-HS ngày 30/8/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2018/QĐXXST-HS ngày 10/9/2018 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1984 tại Nam Định; Nơi đăng ký NKTT; Chỗ ở: Xóm HN, xã BL, huyện GT, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/9/2011, TAND quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 21/02/2013; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2018 đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; Có mặt.
* Người làm chứng: Ông Trần Hồng H1, sinh năm 1964; Trú tại: Tổ 2, phường LKT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 22/7/2018, Trần Văn T bắt xe khách từ nhà đến công trường thi công tòa nhà Vincom thuộc tổ 5, phường Minh Khai, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam để xin việc làm. Đến 17 giờ cùng ngày, do không xin được việc làm, T đi bộ từ công trường ra khu vực vườn hoa Nam Cao thuộc tổ 1, phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. T gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi (T không quen biết). Người này hỏi T “Lấy đồ à”, T hiểu ý người đàn ông hỏi T mua ma túy không nên trả lời “Vâng, tôi chỉ có hai trăm nghìn thôi” và đưa 200.000đ cho người đàn ông, người này cầm tiền rồi điều khiển xe máy chở T đi mua ma túy. Khi đến khu vực chợ Phủ Lý thuộc tổ 2, phường LKT, thành phố PL thì người đàn ông dừng xe máy lại và bảo T xuống đợi, người đàn ông điều khiển xe máy đi một lúc sau quay lại đưa cho T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. T biết bên trong vỏ bao thuốc có chứa chất ma túy nên không mở ra kiểm tra mà cầm ở tay phải. Người đàn ông bảo T đứng chờ anh ta đi một lát rồi quay lại. Khi T đang đứng chờ thì bị tổ công tác Công an phường LKT phát hiện nên yêu cầu kiểm tra, T đang cầm 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng có chứa chất bột màu trắng dạng cục. Tại chỗ T khai nhận đây là ma túy T vừa mua với mục đích sử dụng.
Thu giữ vật chứng, tài sản gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì kí hiệu QT01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips, vỏ nhựa màu đen đã qua sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 118/PC54-MT ngày 25/7/2018, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận:“Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,180gam, loại Heroine. Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 20 Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ”.
Ngày 23/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 82 đối với nơi ở của Trần Văn T tại xóm HN, xã BL, huyện GT, tỉnh Nam Định. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Bản cáo trạng số 125/CT-VKSTP ngày 28/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý trình bày luận tội: giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, các T tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 24 đến 30 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định, trả lại Trần Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu Philips đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo hứa thời gian cải tạo sẽ quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người tốt có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/7/2018, tại tổ 2, phường LKT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Trần Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,180 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường LKT, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 21/9/2011, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, song bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện chính mình mà vẫn tiếp tục có hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung:
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết, với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, bản thân là lao động tự do, không có nghề nghiệp, mục đích tàng trữ để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông khoảng 35 tuổi gặp T ở công viên cầm tiền và chở T đi mua ma túy về sử dụng. Quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, nhân thân của đối tượng này nên chưa có cơ sở để xem xét, xử lý trong vụ án này.
Về vật chứng và xử lý vật chứng đã thu giữ:
+ Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Philips đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của T, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp pháp luật.
+ Đối với toàn bộ số Heroine cùng bao gói cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Áp dụng các Điều 106; 135; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Xử phạt bị cáo Trần Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2018.
[3] Xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Philips vỏ nhựa màu đen đã qua sử dụng
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01” số: 118/PC54-MT có chữ ký và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam;
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 31/8/2018.
[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Công an thành phố Phủ Lý; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Xuyên |