- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn S phạm Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 125/2018/HS-ST Ngày: 31 - 10 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tươi và ông Lê Văn Tú
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2018/TL-STHS ngày 06 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Lƣơng Văn S sinh năm 1981, tại Nghệ An. Nơi cư trú: Bản LP, xã LK, huyện TD, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn L và bà Lô Thị B; Có vợ Mạc Thị S và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/6/2018 cho đến nay. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Ngô Thị Lý và bà Ninh Thị Hà - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Bình bào chữa cho bị cáo Lương Văn S. “Có mặt”.
Bị hại: Anh Nguyễn Xuân Q sinh năm: 1991; Nơi ĐKNKTT: Xã TG, huyện TC, tỉnh Nghệ An. “Đã chết”
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Xuân Q:
Ông Nguyễn Xuân H sinh năm 1953 và bà Bùi Thị L sinh năm 1958, (là bố, mẹ đẻ của bị hại); cùng trú tại: Xã TG, huyện TC, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà L: Chị Nguyễn Thị V sinh năm 1984; Trú tại: Xóm TĐ, xã KH, huyện YK, tỉnh Ninh Bình. “Vắng mặt”.
Bị đơn dân sự: Công ty TNHH TT, địa chỉ: Khối HT, thị trấn HB, huyện TD, tỉnh Nghệ An; Người đại diện theo pháp luật: Ông Văn Đình T - Giám đốc, địa chỉ: Khối HT, thị trấn HB, huyện TD, tỉnh Nghệ An. “Vắng mặt”.
Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn H sinh năm 1995; Nơi cư trú: Xóm C, xã NP, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. “Vắng mặt”.
+ Anh Nguyễn Khắc H sinh năm 1985; Nơi cư trú: Xóm C, xã NP, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Văn S là lái xe hợp đồng cho Công ty TNHH TT. Khoảng 16 giờ ngày 22/8/2016, anh Nguyễn Khắc H là lái xe cùng với Lương Văn S điều khiển xe ôtô khách nhãn hiệu THACO biển kiểm soát 37B-019.36 của Công ty TNHH TT từ bến xe khách tỉnh Thái Nguyên về bến xe Mỹ Đình, thành phố Hà Nội. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, S tiếp tục điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 37B-019.36 từ bến xe khách Mỹ Đình về Nghệ An. Khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đến thành phố Ninh Bình, Lương Văn S điều khiển xe ô tô đi trên đường TNT thuộc địa phận phố TT, phường NS, thành phố Ninh Bình, hướng siêu thị Big C - Quốc lộ 1A với tốc độ 47km/h và đi ở làn xe cơ giới thứ nhất, sát giải phân cách cứng. Cùng lúc này ở phía trước cùng làn đường với xe ôtô của S, cách khoảng 10m có 01 chiếc xe Công-ten-nơ đi cùng chiều. Lương Văn S không ra tín hiệu xin vượt mà điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 37B-019.36 sang bên phải xe ôtô Công-ten-nơ, lấn vào làn đường dành cho xe thô sơ để vượt. Khi Lương Văn S điều khiển xe ô tô khách vượt được nửa thân xe công-ten-nơ thì phát hiện ở phía trước có 01 xe mô tô đang đi cùng chiều ở làn đường dành cho xe thô sơ (xe Honda Wave biển kiểm soát 29L5-3517 do anh Nguyễn Xuân Q sinh năm 1991, trú tại xã TG, huyện TC, tỉnh Nghệ An điều khiển). Do khoảng cách gần, Lương Văn S không xử lý kịp nên phần đầu bên phải xe ôtô (vị trí cụm đèn pha xi nhan phía trước và góc lượn ba đơ sốc) đã đâm vào phía sau xe môtô của anh Q, làm xe mô tô và anh Q đổ rê trên mặt đường cách điểm va chạm 45m mới dừng lại, anh Q bị thương nặng và tử vong trên đường đi cấp cứu, xe mô tô bị hư hỏng nặng.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 055/2016/TTPY ngày 23/8/2016 của Trung tâm Pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận nguyên nhân anh Nguyễn Xuân Q tử vong:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Đa chấn thương. Chấn thương ngực kín có gẫy xương ức, dập vỡ tim, chẩy máu lồng ngực kín. Chấn thương bụng kín có dập vỡ lách, tụ máu các quai ruột, chẩy máu ổ bụng.
- Nguyên nhân chết: Đa chấn thương, chấn thương ngực, bụng kín có đụng dập chảy máu đa tạng.
- Nồng độ cồn (Ethanol) trong máu C= 188,5 mg/100ml.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã thu giữ: 01 xe ôtô nhãn hiệu THACO biển kiểm soát 37B-019.36, 01 đăng ký xe ô tô; 01 đăng kiểm và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm mang tên công ty TNHH TT; 01 Giấy phép lái xe hạng E mang tên Kha Văn M; 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 29L5-3517.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, Lương Văn S đều khai nhận và cung cấp các giấy tờ tùy thân của mình mang tên Kha Văn M sinh năm 1977, trú tại Bản LP, xã LK, huyện TD, tỉnh Nghệ An. Ngày 30/11/2016, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt bị cáo Kha Văn M 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình ra quyết định ủy thác thi hành án hình sự cho Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Nghệ An ra quyết định thi hành án phạt tù cho hưởng án treo đối với bị án Kha Văn M, thì phát hiện Kha Văn M con ông Kha Văn L và bà Lò Thị B có tên thật là Lương Văn S con ông Lương Văn L và bà Lô Thị B. Sau đó, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đã thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình để tiến hành xác minh, thu thập các tài liệu liên quan đến Kha Văn M. Quá trình xác minh, cơ quan điều tra quản lý của Lương Văn S: 01 chứng minh nhân dân mang tên Kha Văn M sinh ngày 26/12/1977 do công an tỉnh Nghệ An cấp ngày 10/6/2002; 01 bằng tú tài không có ảnh mang tên Kha Văn M sinh ngày 26/12/1977 học sinh trường PTTH TD, Nghệ An; 01 giấy phép lái xe số AR 929711 mang tên Kha Văn M bị cắt góc do sở giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp ngày 10/6/2011; 01 chứng chỉ sơ cấp nghề số 00801 mang tên Kha Văn M; 01 chứng chỉ nghề số 000683854 mang tên Kha Văn M; 01 bảng kết quả học tập mang tên Kha Văn M; 01 phiếu theo dõi mang tên Kha Văn M; 02 biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe mang tên Kha Văn M; 01 đơn đề nghị cấp lại giấy phép lái xe do Kha Văn M viết. Sau khi thu thập các tài liệu, lấy lời khai của những người có liên quan, có đủ căn cứ xác định người lái xe ô tô biển kiểm soát 37B-019.36 gây tai nạn ngày 22/8/2016 tại đường TNT làm anh Nguyễn Xuân Q tử vong có tên thật là Lương Văn S sinh năm 1981, con ông Lương Văn L và bà Lô Thị B. Nguyên nhân Lương Văn S thay đổi họ tên, năm sinh của mình thành Kha Văn M sinh năm 1977 là vì năm 2002, trường dạy nghề lái xe huyện HL, tỉnh Lạng Sơn, thông báo tuyển sinh đào tạo lái xe ô tô hạng C; S không có bằng cấp 2 nên không đủ điều kiện đi học lái xe, S đã về mượn bằng tú tài của anh họ là Kha Văn M, trú tại bản LP, xã LK, huyện TD, tỉnh Nghệ An. Sau đó, S đến Ủy ban nhân dân xã LK, huyện TD, tỉnh Nghệ An xin giấy xác nhận và đến công an huyện TD lăn tay làm chứng minh nhân dân mang tên Kha Văn M sinh năm 1977, để làm thủ tục nhập học và được cấp giấy phép lái xe ô tô hạng C. Đến năm 2008, Lương Văn S vẫn lấy tên là Kha Văn M đi học để đổi giấy phép lái xe, ngày 29/12/2015 được Sở giao thông vận tải Nghệ An cấp đổi sang giấy phép lái xe ô tô hạng E.
Nhận thấy đây là tình tiết mới được phát hiện sau khi bản án hình sự sơ thẩm số 153 ngày 30/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình có hiệu lực pháp luật, làm thay đổi cơ bản nội dung bản án mà các cơ quan tiến hành tố tụng không thể biết được. Ngày 27/3/2017, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã báo cáo, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội kháng nghị theo trình tự tái thẩm. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã ban hành Quyết định kháng nghị tái thẩm số 42 ngày 31/7/2017 kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 153 ngày 30/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo thủ tục tái thẩm, theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 153 ngày 30/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đối với bị cáo Kha Văn M để điều tra lại.
Tại quyết định tái thẩm số 10/2018/HS - TT ngày 30/01/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định hủy bản án hình sự sơ thẩm số 153 ngày 30/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để điều tra lại.
Quá trình điều tra lại, có đủ căn cứ xác định Kha Văn M sinh năm 1977 trú tại Bản LP, xã LK, huyện TD, tỉnh Nghệ An là người bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình kết án tại bản án hình sự sơ thẩm số 153 ngày 30/11/2016 về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” có tên thật là Lương Văn S sinh năm 1981 trú tại Bản LP, xã LK, huyện TD, tỉnh Nghệ An. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình đã ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với Lương Văn S về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, quy định tại Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Quá trình điều tra, ông Văn Đình T đại diện công ty TNHH TT cùng Lương Văn S đã bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Xuân Q tổng số tiền 150.000.000 đồng, gia đình nạn nhân đã nhận đủ số tiền bồi thường và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình đã trả lại xe ô tô nhãn hiệu THACO biển kiểm soát 37B-019.36 cùng 01 đăng ký xe ô tô, 01 giấy kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm cho ông Văn Đình T là giám đốc Công ty TNHH TT và trả lại xe môtô biển kiểm soát 29L5-3517 cho chị Nguyễn Thị V là chị gái anh Nguyễn Xuân Q. Anh Trung và chị Vân đã nhận lại tài sản trên và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Kha Văn M; 01 giấy phép lái xe số AR 929711 mang tên Kha Văn M bị cắt góc; 01 chứng chỉ sơ cấp nghề số 00801 mang tên Kha Văn M; 01 chứng chỉ nghề số 000683854 mang tên Kha Văn M; 01 bảng kết quả học tập mang tên Kha Văn M; 01 phiếu theo dõi lái xe mang tên Kha Văn M; 02 biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe mang tên Kha Văn M; 01 đơn đề nghị cấp lại giấy phép lái xe do Kha Văn M viết đã thu giữ của Lương Văn S là tài liệu chứng cứ nên cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình chuyển cùng hồ sơ vụ án. 01 bằng tú tài không có ảnh mang tên Kha Văn M sinh ngày 26/12/1977 học sinh trường PTTH TD, Nghệ An do Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Nghệ An cấp ngày 21/12/1998, quá trình điều tra xác định là của anh Kha Văn M sinh năm 1977 có bố là Kha Văn K, mẹ là Dương Thị H. Hiện tại anh M không có mặt tại địa phương nên không tiến hành làm việc được, vì vậy cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình đã tách phần tài liệu trên để xác minh xử lý theo quy định.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng E mang tên Kha Văn M do Sở giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp ngày 25/12/2015, cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình theo quyết định chuyển vật chứng số 158/QĐ-VKS ngày 03/11/2016 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình là tài liệu, chứng cứ của vụ án nên phải được lưu trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 04/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Lương Văn S ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 2, khoản 5 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lương Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Lương Văn S 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lương Văn S cho Ủy ban nhân dân xã LK, huyện TD, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Lương Văn S xác định:
Về hµnh vi phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, bị cáo đã khai rất rõ tại phiên tòa. Việc truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên không có ý kiến gì; song bị cáo Lương Văn S là người không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; được người đại diện hợp pháp của bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn hạn chế.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b,p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
BÞ c¸o kh«ng cã ý kiÕn tranh luËn víi quan ®iÓm cña ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t. Trong lêi nãi sau cïng, các bÞ c¸o ®Ò nghÞ Héi ®ång xÐt xö xem xÐt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù cho các bÞ c¸o, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai tại phiên toà của bị cáo Lương Văn S đúng như nội dung của bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 23 giờ ngày 22.8.2016, tại đường TNT thuộc phố TT, phường NS, thành phố Ninh Bình, Lương Văn S điều khiển xe ôtô khách BKS 37B – 019.36 đi theo hướng Siêu thị Big C ra Quốc lộ 1A; vì không tập trung quan sát phần đường phía trước, không ra tín hiệu xin vượt, điều khiển xe ôtô vượt bên phải 01 xe ôtô Công-ten-nơ đang đi cùng chiều phía trước và lấn vào làn đường dành cho xe thô sơ, khi đang vượt thì phần đầu xe ôtô do S điều khiển đã đâm vào phía sau xe môtô do anh Nguyễn Xuân Q điều khiển đi cùng chiều phía trước ở làn đường dành cho xe thô sơ, làm xe mô tô và anh Q đổ rê trên mặt đường 45m, anh Q bị thương nặng, tử vong trên đường đi cấp cứu, xe mô tô bị hư hỏng. Trên cơ sở khám nghiệm tử thi và bản kết luận giám định pháp y xác định anh Nguyễn Xuân Q bị “Đa chấn thương. Chấn thương ngực kín có gẫy xương ức, dập vỡ tim, chẩy máu lồng ngực kín. Chấn thương bụng kín có dập vỡ lách, tụ máu các quai ruột, chẩy máu ổ bụng”; nguyên nhân chết là do “Đa chấn thương, chấn thương ngực, bụng kín có đụng dập chấy máu đa tạng”.
Đối chiếu với quy định của Luật giao thông đường bộ, thấy Lương Văn S điều khiển xe ôtô tham gia giao thông không quan sát kỹ tình trạng giao thông ở phần đường phía trước, không ra tín hiệu đèn, còi, điều khiển xe ô tô vượt bên phải xe ô tô đi cùng chiều, lấn vào làn đường của xe thô sơ, không làm chủ được tốc độ đã gây ra tai nạn là vi phạm khoản 23 điều 8, điều 13, điều 14 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả anh Nguyễn Xuân Q tử vong hoàn toàn là do lỗi của bị cáo gây ra. Đối với anh Nguyễn Xuân Q, trong kết luận giám định pháp y xác định nồng độ cồn trong máu vượt quá mức cho phép (188,5 mg/100ml), tuy nhiên đây không phải là nguyên nhân gây ra tai nạn.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi vô ý.
Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Bị cáo Lương Văn S có trình độ văn hóa lớp 5/12 là không đủ điều kiện để đào tạo lái xe ô tô, sát hạch để cấp giấy phép lái xe theo quy định tại khoản 5 điều 61 Luật giao thông đường bộ, quá trình đi học và thi sát hạch bị cáo đã làm giả hồ sơ, lấy tên là Kha Văn M nên giấy phép lái xe đã cấp cho Kha Văn M không có giá trị về mặt pháp lý đối với bị cáo Lương Văn S. Vì vậy, hành vi điều khiển xe ô tô vị phạm Luật giao thông đường bộ làm anh Nguyễn Xuân Q tử vong của bị cáo Lương Văn S đã phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và thuộc trường hợp định khung “không có giấy phép lái xe” quy định tại điểm a khoản 2 điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, gây hoang mang, lo lắng cho người tham gia giao thông, gây tổn thất về vật chất và tinh thần cho gia đình người bị hại. Để hạn chế thấp nhất các vụ tai nạn giao thông, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu trách nhịêm hình sự là cần thiết.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi gây ra tai nạn, bị cáo cùng với Công ty TNHH TT đã chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; thành khẩn khai báo, hối hận với hành vi và hậu quả mà mình đã gây ra. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 điều 46 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, người đại diện hợp pháp của người bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, vận dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 điều 46 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý hành chính cũng như hình sự lần nào, có nhân thân tốt, chỗ ở ổn định.
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo Lương Văn S một mức hình phạt thoả đáng, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa thấp, có nhân thân tốt, chỗ ở ổn định, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hôi mà cho bị cáo được hưởng án treo, với một thời gian thử thách, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ điều kiện để giáo dục cải tạo bị cáo ý thức tuân theo pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và công ty TNHH TT đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Xuân Q 150.000.000 đồng. Gia đình anh Q đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu đòi bồi thường thêm, phần trách nhiệm dân sự đã được hai bên tự giải quyết xong; không bên nào có yêu cầu, đề nghị gì khác nên không đưa ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình đã trả lại xe ôtô nhãn hiệu THACO BKS 37B-019.36 cùng 01 đăng ký xe ô tô và 01 giấy kiểm định cho ông Văn Đình T; trả lại xe môtô BKS 29L5-3517 cho chị Nguyễn Thị V (chị gái anh Nguyễn Xuân Q). Việc xử lý vật chứng của cơ quan CSĐT công an thành phố Ninh Bình là có căn cứ, đến nay không bên nào có yêu cầu đề nghị gì khác, nên không đưa ra xem xét giải quyết.
Đối với Giấy phép lái xe hạng E số 400088105712 do Sở giao thông vận tải Nghệ An cấp ngày 29.12.2015 cho Kha Văn M là tài liệu, chứng cứ của vụ án nên phải được lưu trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử kiến nghị với Công an tỉnh Nghệ An, Công an huyện TD, UBND xã LK, Sở giao thông vận tải Nghệ An xem xét xử lý các giấy tờ đã cấp cho Lương Văn S nhưng mang tên Kha Văn M theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lương Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Lương Văn S khai tên là Kha Văn M nên các cơ quan tiến hành tố tụng không phát hiện ra người thực hiện hành vi phạm tội là Lương Văn S nên Tòa án nhan dân cấp cao tại Hà Nội đã hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử lại là hợp pháp, đúng thẩm quyền, đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn S phạm Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46; khoản 1, khoản 2 điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 1, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015:
- Xử phạt bị cáo Lương Văn S 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án (31/10/2018).
- Bị cáo Lương Văn S phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
- Giao bị cáo Lương Văn S cho Uỷ ban nhân dân xã LK, huyện TD, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu Lương Văn S lại cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Lương Văn S phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo Lương Văn S phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lương Văn S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (31/10/2018); người đại diện hợp pháp của người bị hại và bị đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự, có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND TP.Ninh Bình; - CA TP.Ninh Bình; - CCTHADS TP.Ninh Bình; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; - Người ĐDHP của người bị hại; - Bị đơn dân sự; - Công an tỉnh Nghệ An; - Công an huyện TD; -UBND xã LK; - Sở giao thông vận tải Nghệ An - Lưu VP, HS. Thành viên Hội đồng xét xử Lê Văn Tú Nguyễn Thị Tƣơi | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Hiền Thẩm phán-Chủ toạ phiên tòa Vũ Thị Hiền |