- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Thị L - Trương Hữu L"
- Tòa quyết gì? Không chấp nh n kháng cáo của bị đơn ông Trương Hữu L.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 125/2018/DS-PT Ngày: 24-9-2018. Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng hợp tác |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Anh.
Các Thẩm phán: Ông Thái Rết.
Ông Lê Thanh Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Sóc Trăng: Bà Trần Hồng Diễm - Kiểm sát viên tham gia phiên Tòa.
Ngày 24 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2018/TLPT-DS ngày 27 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng hợp tác”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2018/DS-ST ngày 21/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 127/2018/QĐ-PT ngày 02 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ thường trú: Ấp K, xã L, huyện Th, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi ở hiện nay: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Bị đơn:
- Ông Trương Hữu L, sinh năm 1968 (có mặt)
Địa chỉ: Số 517/III B, khu 3, ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Cao Thị Thúy O, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 517/III B, khu 3, ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của bà Cao Thị Thúy O là ông Trương Hữu L, sinh năm 1968, địa chỉ số 517/III B, khu 3, ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 11/12/2017).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Văn L, sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Người làm chứng: Ông Liễu Triệu T, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ kiện được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:
Vào ngày 03/4/2016 (ngày 26/02/2016 âm lịch) vợ chồng ông Trương Hữu L và bà Cao Thị Thúy O có vay của bà Lài 70.000.000 đồng v i lãi suất 5 /tháng. Khi vay tiền ông Trương Hữu L đại diện ký nh n nợ và có làm biên nh n v i bà L. Sau khi vay ông L và bà O đóng lãi cho bà L được 14.000.000 đồng, kể t ngày 03/8/2016 đến nay ông L và bà O không đóng lãi nữa. Bà L có đến gặp vợ chồng ông L đòi tiền nợ gốc th ông L, bà O không trả. Ngoài ra trong năm 2016 vợ chồng ông L có hợp tác h n vốn v i vợ chồng bà L, ông Liễu Triệu T mua xe tải để chở thuê chia lợi nhu n. Số tiền thu được do chở thuê ông L, bà O không trả cho bà là 8.300.000 đồng và ông L cũng có ký nh n nợ v i bà, nhưng đến nay ông L, bà O v n chưa trả. Đến ngày 18/4/2018 bà L có làm đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, theo đó chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền chia lợi nhu n t việc hợp tác h n mua xe biển số 72M- 4784 để chở thuê là 4.150.000 đồng.
Tại phiên tòa, bà Trần Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc vợ chồng ông Trương Hữu L và bà Cao Thị Thúy O trả cho bà số tiền vốn gốc 70.000.000 đồng và tiền lãi t ngày 03/4/2016 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm, v i mức lãi suất là 1,125 /tháng. Bà L đồng ý khấu tr số tiền lãi mà ông L và bà O đã đóng 14.000.000 đồng cho vợ chồng ông L. Sau khi khấu tr lãi ông L, bà O đã đóng th tiền lãi ông L, bà O còn phải trả là 6.947.500 đồng, bà L không yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả lãi số tiền trên và yêu cầu ông L, bà O trả số tiền lợi nhu n t việc hợp tác h n mua xe chở thuê xe là 4.150.000 đồng. Tổng cộng 74.150.000 đồng.
- Bị đơn ông Trương Hữu L trình bày: Ông Trương Hữu L th a nh n vợ chồng ông có nợ tiền chia lợi nhu n t việc hợp tác h n mua xe biển số 72M- 4784 để chở thuê v i vợ chồng bà O là 4.150.000 đồng và đồng ý trả. Đối v i khoản tiền vay 70.000.000 đồng, ông không thống nhất v i phần tr nh bày của bà L, ông th a nh n chữ ký và chữ viết trong biên nh n nợ ngày 26/02/2016 âm lịch là của ông, nhưng vào lúc đó tại nhà ông L, bà L khi ông và ông L đang nói chuyện th ông L đưa cho ông ký tên, ông không có đọc lại nội dung. Trư c đây vào năm 2016, không nh rõ thời gian cụ thể, ông có vay của vợ chồng bà L 04 lần v i tổng số tiền là 10.000.000 đồng, lãi suất thỏa thu n 10 /tháng là 10.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng vốn lãi là 20.000.000 đồng. Theo thoả thu n th vợ chồng bà L không tính lãi nữa. Đến ngày 16/5/2016 ông đưa cho con ông là Diệp Bảo N trả cho vợ chồng bà L 10.000.000 đồng, tổng cộng còn nợ tiền vay 10.000.000 đồng và ngoài ra ông có mượn vợ chồng bà L nhiều lần v i tổng số tiền là 48.593.000 đồng. Do ông không có khả năng trả nên vợ chồng bà L cho ông trả dần hàng tháng, mỗi tháng trả 3.000.000 đồng. T ngày 24/9/2016 đến ngày 10/3/2017 đã trả được 13.800.000 đồng, còn nợ lại 34.793.000 đồng. Như v y vợ chồng ông còn nợ vợ chồng bà L tiền vay và mượn là 44.793.000 đồng và tiền lợi nhu n t việc h n chở thuê 4.150.000 đồng. Tổng cộng là 48.943.000 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn L trình bày: Vợ chồng ông L, bà L có hợp tác v i ông Trương Hữu L, ông Liễu Triệu T h n mua xe chở thuê để chia lợi nhu n, sau khi kết sổ lại th phần của ông Liễu Triệu T đã nh n xong, ông Trương Hữu L còn nợ lại vợ chồng ông 4.150.000 đồng. Ngoài ra vào ngày 26/02/2016 âm lịch, vợ chồng ông có cho vợ chồng ông L, bà O vay 70.000.000 đồng, lãi suất thỏa thu n 5 /tháng đúng như bà L tr nh bày. Số tiền bà L kiện đòi vợ chồng ông L trả lại là tài sản chung của vợ chồng ông, ông thống nhất v i lời tr nh bày và yêu cầu của bà L, không có ý kiến g khác.
Sự việc được Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết. Tại bản án sơ thẩm số: 10/2018/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2018 đã quyết định căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 92, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280, khoản 1 Điều 244 Bộ lu t Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 471, Điều 474, Điều 476 Bộ lu t Dân sự năm 2005; Điều 357, Điều 468, Điều 688 Bộ lu t Dân sự năm 2015; Điều 27 Lu t Hôn nhân và gia đ nh; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L; Buộc ông Trương Hữu L và bà Cao Thị Thúy O trả cho bà Trần Thị L và ông Võ Văn L số tiền vay 70.000.000đồng; Buộc ông Trương Hữu L và bà Cao Thị Thúy O trả cho bà Trần Thị L và ông Võ Văn L số tiền chia lợi nh n t việc hợp tác h n mua xe chở thuê còn nợ 4.150.000đồng; Tổng cộng: 74.150.000đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất ch m trả tại giai đoạn thi hành án, án phí dân sự sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp lu t.
Ngày 05/7/2018, bị đơn ông Trương Hữu L có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm nêu trên, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm trưng cầu giám định chữ ký của ông L tại Biên nh n nợ ngày 26/02/2016 v i số tiền 70.000.000đồng tại các bút lục số 124-125, đồng thời giải quyết vụ án theo hư ng chỉ buộc ông L trả cho phía nguyên đơn số tiền vay còn nợ 34.793.000đồng và số tiền lợi nh n t việc hợp tác h n mua xe chở thuê còn nợ 4.150.000đồng, tổng cộng 38.943.000đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị L không rút lại yêu cầu khởi kiện; bị đơn ông Trương Hữu L v n giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo; các đương sự không thỏa thu n được v i nhau về việc giải quyết vụ án.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về tuân thủ và chấp hành pháp lu t tố tụng của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trong quá tr nh giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nh n kháng cáo của bị đơn ông Trương Hữu L, đồng thời căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng Dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nh n định:
Về tố tụng:
Người kháng cáo, nội dung và h nh thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo đơn kháng cáo ngày 04/7/2018 của bị đơn ông Trương Hữu L là đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ lu t Tố tụng dân sự năm 2015, nên kháng cáo hợp lệ và đúng theo lu t định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người làm chứng ông Liễu Triệu T đã được Tòa án triệu t p hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt, đồng thời việc vắng mặt của ông Liễu Triệu T không làm ảnh hưởng đến việc xem xét kháng cáo của bị đơn ông Trương Hữu L tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ lu t Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Theo nội dung đơn khởi kiện đã được thay đổi một phần tại phiên tòa sơ thẩm, bà Trần Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết buộc ông Trương Hữu L và bà Cao Thị Thúy O phải trả số tiền vốn vay 70.000.000đồng và số tiền chia lợi nh n t việc hợp tác h n mua xe chở thuê 4.150.000đồng, tổng cộng 74.150.000đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của m nh, bà L có cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm chứng cứ là Biên nh n nợ ngày 26/02/2016 (tại các bút lục số 124-125) có nội dung ông L có nợ bà L số tiền vốn vay và số tiền chia lợi nh n t việc hợp tác h n mua xe chở thuê như đã nêu trên. Trong quá tr nh giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, bản thân ông L cũng nhiều lần th a nh n có ký tên vào Biên nh n nợ ngày 26/02/2016. T cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án theo hư ng chấp nh n toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc ông L và bà O phải trả cho bà L và ông L số tiền vốn vay 70.000.000đồng và số tiền chia lợi nh n t việc hợp tác h n mua xe chở thuê 4.150.000đồng, tổng cộng 74.150.000đồng.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông L có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, theo đó ông L kháng cáo không đồng ý v i việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông L và bà O phải trả cho bà L và ông L số tiền vốn vay 70.000.000đồng, ông L cho rằng ông L và bà O chỉ còn nợ bà L và ông L số tiền vay là 34.793.000đồng; còn đối v i việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông L và bà O phải trả cho bà L và ông L số tiền chia lợi nh n t việc hợp tác h n mua xe chở thuê 4.150.000đồng th ông L không có kháng cáo. Do đó, quyết định của án sơ thẩm về số tiền chia lợi nh n t việc hợp tác h n mua xe chở thuê 4.150.000đồng không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét và đã có hiệu lực pháp lu t.
Xét kháng cáo của ông L về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm trưng cầu giám định chữ ký của ông L trong Biên nh n nợ ngày 26/02/2016 thấy rằng: Tại giai đoạn giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông L nhiều lần th a nh n chữ ký trong Biên nh n nợ ngày 26/02/2016 đúng là chữ ký của ông L, cụ thể tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 05/12/2017 (tại bút lục số 39) ông L th a nh n “Tôi có ký vào tờ giấy nhận nợ ngày 26/02/2016. Lúc đó ông L và tôi đang nói chuyện với nhau tại nhà ông L, sau đó ông L đưa giấy cho tôi ký vào biên bản, nhưng tôi không có đọc nội dung trong biên bản. Do lúc đó sơ ý nên không đọc nội dung”, đồng thời ông L cũng khẳng định chữ ký và chữ viết tên Trương Hữu L trong biên nh n đúng là chữ ký của ông L; tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 21/6/2018 (tại các bút lục 188-193), trong quá tr nh trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử sơ thẩm và Kiểm sát viên th ông L tiếp tục th a nh n là có ký tên vào Biên nh n nợ ngày 26/02/2016 và chữ ký trong biên nh n đúng là chữ ký của ông L. Xét thấy, việc ông L đã nhiều lần th a nh n có ký vào Biên nh n nợ ngày 26/02/2016 như đã nêu trên là t nh tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ lu t Tố tụng Dân sự 2015. Đồng thời, theo khoản 1 Điều 102 Bộ lu t Tố tụng dân sự năm 2015 th “Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự”. Trong suốt quá tr nh giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông L không yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm trưng cầu giám định nên việc ông L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm trưng cầu giám định là không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nh n.
Xét kháng cáo của ông L về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án theo hư ng chỉ buộc ông L trả cho bà L và ông L số tiền vay còn nợ 34.793.000đồng thấy rằng: Ông L cho rằng chỉ còn nợ số tiền vay 34.793.000đồng nhưng ngoài lời tr nh bày ra thì ông L không đưa ra được tài liệu, chứng cứ g để chứng minh, trong khi phía bà L và ông L cũng không th a nh n vấn đề này. Hơn nữa, v i việc ông L đã th a nh n có ký vào Biên nh n nợ ngày 26/02/2016 như đã nêu trên th đã có căn cứ khẳng định ông L có vay của bà L và ông L số tiền vốn vay 70.000.000đồng, ông L cho rằng ông ký vào Biên nh n nợ ngày 26/02/2016 nhưng lúc ký không có đọc nội dung, do sơ ý nên ông ký... nhưng ông L cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ g để chứng minh cho lời tr nh bày của ông là đúng sự th t. Do đó, kháng cáo của ông L cho rằng chỉ còn nợ bà L và ông L số tiền vay 34.793.000đồng là không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nh n.
T những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định không chấp nh n toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Trương Hữu L và căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng Dân sự 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nh n.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trương Hữu L phải chịu theo quy định pháp lu t.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 Bộ lu t Tố tụng dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
- Không chấp nh n kháng cáo của bị đơn ông Trương Hữu L.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2018/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng như sau:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 92, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280, khoản 1 Điều 244 Bộ lu t Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 471, Điều 474, Điều 476 Bộ lu t Dân sự năm 2005; Điều 357, Điều 468, Điều 688 Bộ lu t Dân sự năm 2015; Điều 27 Lu t Hôn nhân và gia đ nh; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.
- Buộc ông Trương Hữu L và bà Cao Thị Thúy O trả cho bà Trần Thị L và ông Võ Văn L số tiền vay 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
- Buộc ông Trương Hữu L và bà Cao Thị Thúy O trả cho bà Trần Thị L và ông Võ Văn L số tiền chia lợi nhu n t việc hợp tác h n mua xe chở thuê còn nợ là 4.150.000 đồng (Bốn triệu một trăm năm mươi ngh n đồng).
Tổng cộng: 74.150.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu một trăm năm mươi ngày đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp lu t, kể t ngày bà Trần Thị L, ông Võ Văn L có đơn yêu cầu thi hành án th hàng tháng ông Trương Hữu L, bà Cao Thị Thúy O còn phải trả lãi cho bà Trần Thị L, ông Võ Văn L theo mức lãi suất 10 /năm, đối v i số tiền ch m thi hành án.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Hữu L và bà Cao Thị Thúy O cùng phải chịu 3.707.500 đồng (Ba triệu bảy trăm lẻ bảy ngh n năm trăm đồng) án phí sơ thẩm. Nguyên đơn bà Trần Thị L không phải chịu án phí, được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp 1.979.218 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006507 ngày 16/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3/ Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trương Hữu L phải chịu là 300.000đồng (Ba trăm ngh n đồng), nhưng được khấu tr vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngh n đồng), theo Biên lai thu số: 0002713, ngày 11 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Như v y, bị đơn ông Trương Hữu L đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án này có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - TAND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Các đương sự; - Lưu HS-TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Võ Hoàng Anh |