vanban.org

Bản án 1242/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh C và chị V.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung là cháu N, sinh ngày 30.7.2006 và cháu K, sinh ngày 10.9.2010 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh C và chị V"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh C và chị V.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
N N N D N
N
N N
ỈN BÌN ĐỊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1242/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 12 - 2017
V/v Ly hôn giữa anh C và chị V

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG

XÃ ỘI C Ủ NG Ĩ VIỆ NAM

N N N D N

N

N N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tr n Thị Định

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Thùy Châu

Bà Trịnh Thị Xuân Hoài

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Hương Giang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 928/2017/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2017 về “Ly hôn, tranh ch p về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh C, sinh năm 1979, địa chỉ: Đường Đ, tổ D, khu vực M, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định (Có mặt).

- Bị đơn: Chị V, sinh năm 1982, địa chỉ: Tổ T, khu vực A, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định (Có mặt).

NỘI D NG VỤ N:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 8 năm 2017, đơn bổ sung và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn anh C trình bày:

Anh và chị V đăng ký kết hôn vào ngày 31.12.2004 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống, thời gian đ u cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh làm nghề lái xe, thường xuyên xa nhà, khi anh có mối quan hệ với người khác chị V tỏ thái độ không tôn trọng dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Năm 2013, chị V làm đơn yêu c u ly hôn anh nhưng sau đó chị V tự nguyện rút đơn khởi kiện, chị V dẫn hai con về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Hiện anh nhận th y tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn nên yêu c u ly hôn chị V.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên N, sinh ngày 30.7.2006 và K, sinh ngày 10.9.2010, hai cháu đang sống với chị V, sức khỏe bình thường. Nếu ly hôn, anh đồng ý giao hai con cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng nhưng không đồng ý c p dưỡng, nếu chị V không đồng ý anh yêu c u mỗi người nuôi một cháu, không ai phải c p dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu c u Tòa giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 04 tháng 10 năm 2017 và lời khai tiếp theo bị đơn chị V trình bày:

Chị thống nh t về thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn như anh C trình bày. Theo chị, cũng vì không chịu đựng được cách sống của anh C, năm 2013 chị đã làm đơn yêu c u ly hôn anh C nhưng được Tòa động viên hàn gắn nên chị đã rút đơn. Từ đó đến nay, mặc dù tình cảm vợ chồng không được cải thiện nhưng chị ch p nhận tha thứ cho anh C, mong anh suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy các con.

Về con chung: Thống nh t như anh C trình bày về con chung, họ tên, ngày tháng năm sinh, sức khỏe và tình trạng hiện nay của các cháu. Nếu ly hôn chị cương quyết yêu c u được nuôi 02 cháu N, K và yêu c u anh C c p dưỡng mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu c u Tòa giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã ch p hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về việc giải quyết vụ án đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56; Khoản 2 Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ch p nhận yêu c u của anh C được ly hôn chị V; Về con chung: Giao 02 cháu N và cháu K cho chị V được trực tiếp nuôi dưỡng; Anh C c p dưỡng nuôi con đối với cháu N và K mỗi cháu từ 1.000.000 đồng/tháng đến 1.500.000 đồng/tháng; Anh C phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

N ẬN ĐỊN CỦ

N:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh ch p giữa nguyên đơn anh C với bị đơn chị V là tranh ch p về “Ly hôn, nuôi con chung”. Chị V cư trú tại Tổ T, khu vực A, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung: Anh C và chị V tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 31.12.2004 tại UBND phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, thời gian đ u cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo anh C, do anh làm nghề lái xe, thường xuyên xa nhà vợ chồng ít có cơ hội gặp gỡ, nói chuyện, không có sự tôn trọng nhau. Anh thừa nhận một ph n do lỗi của anh mới dẫn đến sự việc như ngày hôm nay nhưng anh không thể tiếp tục kéo dài cuộc hôn nhân này nữa. Chị V thì không đồng ý ly hôn vì cho rằng hiện chị vẫn còn tình cảm với anh C, mong muốn anh C suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy các con.

[3] HĐXX th y rằng, Biên bản xác minh ngày 24.11.2017 tại UBND phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định có nội dung “… Trong quá trình chung sống tại địa phương, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C làm nghề lái xe, vì tính ch t công việc nên thường xuyên xa nhà. Năm 2013 mâu thuẫn vợ chồng gay gắt, dẫn đến việc chị V dẫn theo các con về nhà cha mẹ ruột để ở từ thời điểm đó cho đến nay… ”. Th y rằng, năm 2013 chị V đã làm đơn khởi kiện yêu c u ly hôn anh C, ngày 13.6.2013 Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 369/2013/QĐST-HNGĐ vì chị V đã tự nguyện rút đơn khởi kiện để vợ chồng có cơ hội hàn gắn. Tuy nhiên, từ đó đến nay cuộc sống vợ chồng vẫn không được cải thiện, cả hai sống ly thân từ năm 2013. Tình cảm, trách nhiệm giữa các bên thực sự không còn, khả năng hàn gắn là điều không thể. Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh C, chị V thực sự tr m trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị V yêu c u được đoàn tụ nhưng chị cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà chỉ nhằm kéo dài thời gian gây đau khổ cho cả hai vì vậy căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình ch p nhận yêu c u xin ly hôn của anh C.

[4] Về con chung: Anh C, chị V thống nh t quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên N sinh ngày 30.7.2006 và K sinh ngày 10.9.2010. Hiện hai cháu đang sống với chị V, sức khỏe bình thường. Nếu ly hôn, anh C đồng ý giao hai con cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng nhưng không đồng ý c p dưỡng. Nếu chị V không đồng ý anh yêu c u mỗi người nuôi một cháu, không ai phải c p dưỡng nuôi con cho ai. Chị V thì cương quyết yêu c u được nuôi hai cháu và yêu c u anh C c p dưỡng nuôi con mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng. Tòa xét việc giao con cho ai nuôi là phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh hiện tại của người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng có đảm bảo cho sự phát triển bình thường của đứa trẻ hay không. Xét anh C làm nghề lái xe, thường xuyên xa nhà; Chị V có chỗ ở, công việc và thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi các cháu. Mặt khác, từ nhỏ các cháu đã sống chung với mẹ, tình cảm chị em gắn bó. Xét nguyện vọng của các cháu N, K mong muốn được ở với mẹ. Xu t phát từ lợi ích mọi mặt của các cháu, HĐXX giao 02 cháu N, K cho chị V được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về c p dưỡng: Chị V yêu c u anh C c p dưỡng nuôi con mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng nhưng anh C không đồng ý. Th y rằng, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ c p dưỡng cho con, do đó việc chị V yêu c u khoản c p dưỡng nuôi con là chính đáng, tuy nhiên với mức yêu c u c p dưỡng nuôi con mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng là cao. Xét nhu c u thực tế của các bên và để bảo đảm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng, học hành của các cháu cũng như khả năng, thu nhập thực tế của anh C (9.000.000 đồng/tháng) buộc anh C phải có nghĩa vụ c p dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng kể từ tháng 12/2017 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là có căn cứ theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

[6] Về tài sản chung: Không yêu c u, Tòa không giải quyết.

[7] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, anh C phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ-ST và 300.000 đồng án phí c p dưỡng.

[8] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Tòa.

Vì các lẽ trên;

Ế ĐỊN :

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh C và chị V.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung là cháu N, sinh ngày 30.7.2006 và cháu K, sinh ngày 10.9.2010 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Về c p dưỡng nuôi con: Anh C phải có nghĩa vụ c p dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng, kể từ tháng 12.2017 cho đến khi các cháu N, K đủ 18 tuổi.

Vì lợi ích của con, một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo d c con chung, không ai được ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Không yêu c u, Tòa không giải quyết.

4. Về án phí: Anh C phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ-ST và 300.000 đồng án phí về c p dưỡng, tổng cộng 600.000 đồng nhưng được kh u trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005307 ngày 04.10.2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Anh C còn phải nộp 300.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Anh C, chị V có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. NơNơii nnhhậậnn::

TTMM.. HHỘỘII ĐĐỒỒNNGG XXÉÉTT XXỬỬ SSƠƠ TTHHẨẨMM -- CCáácc đđưươơnngg ssựự;; -V-VKKSSNNDD,, CCCCTTHHAADDSS TTpp QQuuyy NNhhơơnn;;

TTHHẨẨMM PPHHÁÁNN -- CCHHỦỦ TTỌỌAA PPHHIIÊÊNN TTÒÒAA -- TTAANNDDTTPP..QQuuyy NNhhơơnn;; -- UUBBNNDD PP.. HH;; -- LLưưuu..

TTrrầầnn TThhịị ĐĐịịnnhh

Cỡ chữ