- Tranh chấp gì? "Quàng Văn Hương 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quàng Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn H 12 (mười hai) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TßA ¸N nh©n d©n THÀNH PHỐ SƠN LA tØnh S¬n la | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 124/2021/HS-ST Ngµy: 23-8-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Hương;
Các hội thẩm nhân dân: Bà Bồ Thị Thái; bà Hoàng Thanh Thúy;
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Mạnh Hùng, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mai Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 130/2021/TLST-HS ngày 23/7/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/HSST-QĐ ngày 13/8/2021 đối với bị cáo:
Quàng Văn H (tên gọi khác: không); Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1979 tại thành phố Sơn La; Nơi cư trú: Bản Bó Ẩn, phường C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 4/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: không; Con ông: Quàng Văn K; Con bà Quàng Thị N (đã chết); Bị cáo có vợ Lường Thị T, có 01 con là Quàng Thị Loan sinh ngày 28 tháng 8 năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 14 tháng 5 năm 2021, Quàng Văn H đón xe buýt từ nhà tại bản Bó Ẩn, phường C lên khu vực tổ 9, phường Quyết Thắng, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. H gặp và mua được của một người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000,đ (hai trăm ngàn đồng). H cất gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi về đến khu vực cổng Công ty Điện lực thuộc tổ 9, phường Quyết Thắng thì bị tổ công tác Công an thành phố Sơn La phát hiện, lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Cơ quan Công an thành phố Sơn La thu giữ được vật chứng gồm: 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa bột cục màu trắng (H khai là He roine).
Ngày 14/5/2021, Công an thành phố Sơn La tiến hành cân tịnh vật chứng, kết quả số ma túy thu giữ của H có khối lượng 0,26 gam, lấy 0,08 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H1, còn lại 0,18 gam lưu kho vật chứng ký hiệu H2.
Tại Kết luận giám định số 1000/KLMT ngày 17/5/2021 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu H1 là ma túy, loại chất Heroine”.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Quàng Văn H là 0,26 gam, loại chất Heroine. Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định.
Tại bản Cáo trạng số 444/CT-VKSTP ngày 22 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Quàng Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Quàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Quàng Văn H từ 14 tháng đến 16 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, do bị cáo là người mắc nghiện ma túy, thu nhập thấp, gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị, bị cáo không có tài sản riêng.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Heroine đang lưu kho vật chứng ký hiệu H2.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Ý kiến của bị cáo nhất trí như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên toà. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào Nghị án, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất trong khung hình phạt để sớm được trở về với gia đình, cộng đồng và làm ăn lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Vào ngày 14/5/2021, Quàng Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,26 gam Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố Sơn La kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Quàng Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội tại phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”:
a)…………
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
………..
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Quàng Văn H với số lượng tàng trữ 0,26 gam Heroine là không lớn, mục đích là để sử dụng cho bản thân, do bị cáo là người đang bị mắc nghiện ma túy. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do cố ý. Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm phát sinh, lây lan các tệ nạn xã hội. Hành vi đó là nguy hiểm, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã được giáo dục, biết rõ tác hại của ma tuý đối với đời sống con người và xã hội, song vẫn cố tình phạm tội, nên cần áp dụng Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 để xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
Xét nhân thân bị cáo Quàng Văn H, về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Bị cáo không có tiền án, không có tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Mặt khác, bị cáo có bố đẻ là ông Quàng Văn K, là người có công với Cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì; Bị cáo có con gái ruột là Quàng Thị Loan, sinh ngày 28/8/2020 (gần một tuổi), bị mắc bệnh tim bẩm sinh, phải phẫu thuật trong tháng 6/2021, nên gặp rất nhiều khó khăn, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung, nhất là công tác phòng, chống tội phạm ma tuý trong giai đoạn hiện nay.
Bị cáo đang bị tạm giam, nay Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Song, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập, là người nghiện ma tuý, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với nguồn gốc 0,26 gam Heroine, bị cáo H khai nhận do bị cáo mua của người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Về vật chứng vụ án: Xét cần tuyên tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Heroine đang lưu kho vật chứng ký hiệu H2 là phù hợp với điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/5/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Quàng Văn H.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Quàng Văn H, sinh năm 1979, tàng trữ trái phép chất ma tuý, bắt ngày 14/5/2021, gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 01 mảnh băng dính trong suốt, 01 mảnh giấy trắng có chữ, mẫu lưu H2 = 0,18 gam”
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2021 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Quàng Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000,đ (hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Quàng Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Viện kiểm sát TP(2 bản); - CA thành phố; - Trại giam; - Bị cáo; - THA phạt tù; - THADS thành phố; - Sở Tư pháp; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. THÀNH VIÊN HĐXX THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Đặng Thị Hương Đặng Thị Hương |