vanban.org

Bản án 124

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249 và điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Huỳnh Trí T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2018. [3]. Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Huỳnh Trí Tân -Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TßA ¸N NH©N D©N
Thµnh phè ®
tØnh l©m ®ång

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________________
B¶n ¸n sè: 124/2018/HSST
Ngµy : 25/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông HOÀNG TRÌNH

+ Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông DƢƠNG HẢI LONG;

2/. Bà TRẦN THỊ NGỌC KIM.

- Thư ký phiên tòa: Ông NGUYỄN VĂN ĐỒNG - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà HOÀNG THỊ THẮM - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 25 tháng 9 năm 2018. tại Hội trƣờng Ủy ban nhân dân Phƣờng 11, thành phố Đ, Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2018/HSST ngày 27 tháng 8 năm 2018; Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 123/QĐ-HSST ngày 14 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: HUỲNH TRÍ T, Tên gọi khác: Bờm. Sinh ngày 22 tháng 4 năm 1990. Nơi sinh: Lâm Đồng. Nơi ĐKNKTT: Thôn N, xã P, huyện L, Lâm Đồng. Chỗ ở: Thôn N, xã P, huyện L, Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Phụ xe. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Con ông: Huỳnh T (chết); Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1950. Vợ: Nguyễn Thị Phƣơng T, sinh năm 1995, có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017. Hiện ở tại: Thôn N, xã P, huyện L, Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 01/3/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, Lâm Đồng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Huỳnh Trí T là đối tƣợng sử dụng chất ma túy (Methamphetamine) từ năm 2013. Vào khoảng 17 giờ ngày 01/3/2018, Tân liên lạc với Nguyễn Trung B, sinh năm 1989, Hộ khẩu thƣờng trú tại: 18/5 - N, Phƣờng 1, thành phố Đà, Lâm Đồng hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 800.000 đồng để sử dụng và hẹn sẽ giao dịch tại Cầu 3 tháng 2, Phƣờng 4, thành phố Đ, Lâm Đồng. Sau đó T đến gặp B, đƣa cho B 800.000 đồng và nhận 02 gói ma túy đá rồi giấu trong túi quần. Sau khi mua ma túy, T đi đến quán internet N tại C35 - T, Phƣờng 4, thành phố Đ, Lâm Đồng để xem lịch trình đi xe khách. Đến khoảng 18 giờ 10 cùng ngày, khi Tân đang ở trong quán internet N thì bị Công an thành phố Đ, Lâm Đồng kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang T đang tàng trữ số ma túy nói trên. Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Trí T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 541/GĐ-PC54 ngày 03/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong 02 gói nilon đƣợc niêm phong gởi giám định có khối lƣợng 0,5481gam là Methamphetamine, Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Trí T không thắc mắc hay khiếu nại gì đối với các Kết luận của Cơ quan giám định nêu trên.

Tại Cáo trạng số 129/CT-VKS ngày 22/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố Huỳnh Trí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Trí T khai nhận vào chiều ngày 01/3/2018 bị cáo đã có hành vi mua chất Methamphetamine đựng trong 02 gói nilon của một đối tƣợng tên Nguyễn Trung B, bán tại thành phố Đà L, Lâm Đồng, sau đó tàng trữ để sử dụng và đến tối cùng ngày, khi bị cáo đang tàng trữ số ma túy trên thì bị Công an thành phố Đ, Lâm Đồng kiểm tra, phát hiện bắt giữ, thu giữ số ma túy trên với các hành vi cụ thể nhƣ Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận nhƣ sau: Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Trí T đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, không có nội dung gì thay đổi, hành vi của bị cáo tàng trữ 0,5481gam Methamphetamine là chất ma túy, để sử dụng, có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Huỳnh Trí từ 18 đến 24 tháng tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo qui định của pháp luật. Bị cáo không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã đƣợc tiến hành hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Trí T:

Bị cáo là ngƣời đã trƣởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rất rõ việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là Methamphetamine, một loại ma túy tổng hợp là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhƣng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo mua và tàng trữ 0,5481 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phƣơng. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Biên bản phạm tội quả tang, lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã đƣợc thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Huỳnh Trí T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm đối với bị cáo đƣợc qui định tại điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nhƣ Cáo trạng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo tàng trữ ma túy với khối lƣợng 0,5481 gam Methamphetamine. Không thuộc tình tiết định khung tăng nặng nào đƣợc qui định tại điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào theo qui định tại điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Sau khi bị bắt, trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về áp dụng hình phạt bổ sung:

Xét hiện không xác định đƣợc bị cáo có nguồn thu nhập gì từ việc Tàng trữ trái phép chất ma túy nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng :

Các loại vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án gồm có:

+ Hai phong bì đã đƣợc niêm phong, trong đựng vật chứng còn lại sau giám định và bao gói vật chứng trƣớc khi giám định, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy;

+ Một điện thoại di động hiệu Masstel Win A2, vỏ màu đen (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo, xét bị cáo đã sử dụng cho việc liên lạc để mua ma túy, cần tịch thu để sung quỹ Nhà nƣớc.

+ Các tài sản khác, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã có Quyết định xử lý, vì vậy không đề cập xử lý trong bản án này.

Về án phí:

Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249 và điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Huỳnh Trí T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2018.

[3]. Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu để tiêu hủy: Hai phong bì đã niêm phong đựng vật chứng còn lại sau giám định và bao gói vật chứng trƣớc khi giám định.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc: 01 điện thoại di động hiệu Masstel Win A 2, vỏ màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Đà Lạt và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt ngày 27/8/2018).

[4]. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ