vanban.org

Bản án 124

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 11/10/2022 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/10/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tô Văn Lượng - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

N N N N

N

Ủ N

T N M T N B N T N

p - T do - nh ph B n án số: 124/2022/HS-PT Ngày: 11-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC C N

XÃ H I CHỦ N

T NAM

T

N N N N T N B N T N

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành và ông Vũ Đức Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Khuê, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 99/2022/TLPT-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo Tô Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với B n án hình sự sơ thẩm số 36/2022/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H.

- Bị cáo có kháng cáo:

Tô ăn L, sinh năm 1989 tại Hà Giang.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn V1, xã V2, huyện B, tỉnh Hà Giang; Nghề nghiệp: Lái xe; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Tô Văn L1(đã chết) và bà Má Thị M, sinh năm 1968; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”

Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

N

N Ụ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Kho ng 16 giờ 00 phút ngày 31/7/2021, Tô Văn L điều khiển xe ô tô t i biển số 29H – 201.80 (do ông Tạ Văn A1 đứng tên chủ sở hữu nhưng xe thuộc quyền qu n lý, sử dụng của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ vận t i A2, L là lái xe theo hợp đồng) chở hàng từ Bình Dương về Hà Nội lưu thông trên QL1A theo hướng Đồng Nai đi Phan Thiết. Kho ng 23 giờ 00 phút ngày, khi đến đoạn km 1770 + 300m QL1A thuộc thôn 1, T1, H, Bình Thuận. Đây là đoạn đường thẳng, phía trước có chốt kiểm dịch Covid 19 của tỉnh Bình Thuận đang làm nhiệm vụ. Thời điểm này, đồng chí Trần Thế B1 và đồng chí Nguyễn Minh B2 thuộc đội CSGT Công an huyện H đang dừng xe mô tô 3 bánh biển số 61L8

- 7839 do Trương Xuân S điều khiển chở sau thùng xe vợ Lê Thị T3, sinh 1976 và các con: Trương Xuân T4, sinh 2006; Trương Xuân T5, sinh 2010; Trương Thị Hồng T6, sinh 2018 để kiểm tra, hướng dẫn vào địa điểm khai báo y tế. Do buồn ngủ, không chú ý quan sát, đi không đúng làn đường quy định nên khi phát hiện phía trước có xe mô tô 3 bánh 61L8 – 7839 đang dừng phía trước, Tô Văn L đã không kịp xử lý để xe ô tô t i 29H – 201.80 do mình điều khiển đâm vào đuôi xe mô tô ba bánh 61L8 - 7839 hất văng xe mô tô ba bánh 61L8 – 7839 cùng gia đình ông Trương Xuân S và hai đồng chí Trần Thế B1, Nguyễn Minh B2 văng vào lề đường bên ph i gây ra tai nạn giao thông. Hậu qu Trương Văn T4 tử vong tại chỗ, Trần Thế B1, Nguyễn Minh B2, Trương Xuân S, Trương Xuân T5, Trương Thị Hồng T6 và Lê Thị T3 bị thương; xe mô tô ba bánh 61L8-7839 hư hỏng.

* Theo biên b n khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông do Cơ quan CSĐT Công an huyện H lập lúc 00 giờ 00 phút ngày 01/8/2021, thì hiện trường vụ tai nạn giao thông thể hiện:

Hiện trường vụ TNGT thể hiện như sau: Đoạn đường nơi x y ra tai nạn là đoạn đường thẳng. Mặt đường tr i bê tông nhựa phẳng rộng 12m40. Ở giữa tim đường kẻ vạch S màu vàng nét đứt chia mặt đường thành hai phần đường xe chạy riêng biệt, mỗi bên đều có hai làn đường dành cho xe cơ giới, làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ. Đo phần đường bên ph i hướng Đồng Nai đi Ninh Thuận rộng 6m20, đo làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 2m80. Chọn hướng chuẩn là hướng Đồng Nai đi Ninh Thuận, chọn lề chuẩn là mép đường bê tông nhựa ph i theo hướng Đồng Nai đi Ninh Thuận, chọn điểm mốc cố định lâu dài là cột mốc Km 1770 + 300m.

- Vết đánh dấu số (1) tại hiện trường xe ô tô 29H - 201.80 nằm đứng yên trên mặt đường nhựa bên ph i theo hướng chuẩn, đầu xe hướng về Ninh Thuận, đuôi xe hướng về Đồng Nai. Đo từ tâm trục bánh sau bên ph i ở giữa vào lề chuẩn được 0m65. Đo từ tâm trục bánh sau phía ngoài bên ph i ở giữa được 0m80. Đo từ tâm trục bánh trước bên ph i đến lề chuẩn được 1m60. Đo từ tâm trục bánh sau bên trái đến vết số (2) được 0m80, đo từ tâm trục bánh trước bên ph i đến số (3) được 0m65;

- Vết số (2) tại hiện trường là vết phanh bên trái của xe ô tô 29H - 201.80, vết phanh đôi. Đầu vết hướng Đồng Nai, cuối vết hướng Ninh Thuận. Đo từ tâm đầu vết đo vào lề chuẩn được 3m45. Đo từ tâm cuối vết đến lề chuẩn được 6m20. Đo từ cuối vết đến cuối vết số (3) được 1m90;

- Vết số (3) tại hiện trường là vết phanh bên ph i của xe ô tô 29H - 201.80, vết phanh đôi. Đầu vết hướng Đồng Nai, cuối vết hướng Ninh Thuận. Đo từ tâm đầu vết đo vào lề chuẩn được 1m80. Đo cuối tâm vết vào lề chuẩn được 2m05. Đo từ tâm đầu vết đến tâm đầu số (5) được 8m10. Đo từ cuối vết đến gót chân ph i tử thi số (4) được 4m70. Đo từ cuối vết đến tâm số (5) được 6m20.

- Vết số (4) tại hiện trường là tử thi nằm ngửa trên lề đất bên ph i hướng Đồng Nai đi Ninh Thuận. Đầu tử thi hướng Ninh Thuận, chân tử thi hướng Đồng Nai. Đo từ gót chân bên ph i vào lề chuẩn được 0m70. Đo từ đầu tử thi đến tâm số (5) được 3m50. Đo từ đầu tử thi đến trục bánh trước xe số (8) được 2m90. Đo từ tâm đầu vết đến tâm đầu (3) được 7m90. Đầu vết bị chồng lấn bởi vết (2).

- Vết số (5) tại hiện trường là khu vực m nh vỡ nằm r i rác trên mặt đường nhựa và phần lề đất. Đo từ tâm vết vào lề chuẩn được 1m40. Đo từ tâm vết đến tâm số (6) được 4m40.

- Vết số (6) tại hiện trường là chốt kiểm soát gồm dù, ghế, gậy. Đo từ tâm vết đến lề chuẩn được 1m. Đo từ tâm vết đến tâm số (7) được 2m. Đo từ tâm vết đến trục bánh trước xe số (8) được 2m30;

- Vết số (7) tại hiện trường là máu. Đo từ tâm mép đến lề chuẩn được 2m. Đo từ tâm vết đến trục bánh sau bên trái xe số (8) được 2m30;

- Số (8) là mô tô ba bánh BKS 61L8 - 7839 nằm ng nghiêng về bên ph i trên phần lề đất, đầu xe hướng về Ninh Thuận, đuôi xe hướng về tim đường. Đo từ trục bánh trước đến lề chuẩn được 4m40; Đo từ trục bánh sau đến lề chuẩn được 4m70; 2m97; 2m90; 2m90; 3m00.

* Tại biên b n khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do cơ quan CSĐT Công an huyện H lập lúc 14 giờ 00 phút ngày 05/8/2021 thì tình trạng xe mô tô ba bánh BKS 61L8 – 7839:

- Thùng sau bên trái móp méo, tét rách KT (45 x 60)cm. Toàn bộ thùng bị đứt rời khỏi xe.

- Cụm đèn tín hiệu chiếu sáng trước và đèn tín hiệu vỡ toàn bộ.

- Bát sau của đầu xắc xi sau xe của bên ph i và bên trái bị đứt phần b n lề.

- Các chi tiết từ cổ lái xuống thân xe gồm: cổ lái, bình xăng lớn, ốp nhựa hông bên ph i và bên trái, bình xăng con, bô e giỏ động cơ, thùng đồ dét, bình ắc quy đều bị hư hỏng, cong vênh, vỡ.

Tại biên b n khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do cơ quan CSĐT Công an huyện H lập lúc 14 giờ 30 phút ngày 05/8/2021 thì tình trạng xe ô tô 29H - 201.80:

- Mặt kính chắn gió trước góc dưới bên ph i vỡ r i rác KT (37 x 23)cm.

- Ốp gốc ga lăng mặt trước đầu xe bên ph i vỡ toàn bộ rời khỏi xe.

- Ốp nhựa hông bậc dưới phần trước cong vênh, trầy xước, dính chất S màu xanh KT (16 x 20)cm.

- Mặt kính đèn chiếu sáng trước bên ph i phần dưới rạn nứt KT (20 x 03)cm, xô lệch khỏi vị trí cố định; Cáng trước đẩy hướng từ trước ra sau 03cm.

- Cáng trước bên trái móp méo, trầy xước, tróc S KT (80 x 50)cm dính r i rác chất S màu xanh KT (62 x 42)cm.

- Cửa ca bin bên ph i góc trước phần dưới móp méo KT (12 x 04)cm, dính r i rác chất S màu xanh KT (43 x 10)cm hướng trượt từ trước ra sau.

Tại b n kết luận giám định số 1015/KLGĐ-PC09 ngày 26/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận như sau:

Tại thời điểm giám định, xác định xe ô tô t i BKS 29H – 201.80 và xe mô tô ba bánh BKS 61L - 7839 có va chạm với nhau:

+ Dấu vết va chạm giữa xe ô tô t i BKS 29H – 201.80 và xe mô tô ba bánh BKS 61L - 7839: Dấu vết va chạm trên xe ô tô t i BKS 29H – 201.80: Móp lún biến dạng, trượt xước, mất chất màu trắng, bám dính chất màu xanh mặt ngoài c n trước, bên ph i, có chiều từ trước ra sau; vỡ, rơi khỏi vị trí ban đầu ốp ga lăng mặt trước đầu xe bên ph i; nứt vỡ, bám dính chất chất màu xanh mặt ngoài chóa đèn chiếu sáng phía trước bên ph i; trượt xước kim loại, bám dính chất màu xanh trên móc kéo cứu hộ phía trước bên ph i, có chiều từ trước ra sau phù hợp với dấu vết va chạm trên xe mô tô ba bánh BKS 61L - 7839: Móp lún, biến dạng toàn bộ thùng sau bên trái, có chiều từ trước ra sau; trượt xước kim loại, mất chất màu xanh, bám dính chất màu trắng, mặt ngoài thùng sau bên trái, có chiều từ sau ra trước; trượt xước, rách kim loại thanh sắt xi khung xe sau bên trái, có chiều từ sau ra trước.

+ Vị trí va chạm giữa xe ô tô t i BKS 29H – 201.80 và xe mô tô ba bánh BKS 61L - 7839 tại km 1770+ 330m, Q1A, nằm trên làn đường xe thô sơ thuộc phần đường bên ph i theo hướng Đồng Nai đi Ninh Thuận.

+ Tại thời điểm x y ra va chạm, xe ô tô t i BKS 29H-20180 lưu thông trên QL 1A hướng Đồng Nai đi Ninh Thuận; xe mô tô ba bánh BKS 61L-7839 lưu thông cùng chiều phía trước.

- Kết luận giám định số 1043/KLGĐ-PC09 ngày 10/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận giám định như sau:

Hệ thống phanh cụm chi tiết được lắp đặt đúng vị trí, đúng kỹ thuật, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật; hệ thống lái cụm chi tiết được lắp đặt đúng vị trí, đúng kỹ thuật, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật; hệ thống đèn chiếu sáng (trừ đèn chiếu sáng trước bên ph i) cụm chi tiết được lắp đặt đúng vị trí, đúng kỹ thuật, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.

Tại b n kết luận giám định pháp y về tử thi số 165/2021/TT ngày 13/8/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận nguyên nhân chết của Trương Xuân T4 như sau: Chấn thương sọ não nặng dẫn đến tử vong.

Tại b n kết luận giám định pháp y về thương tích số 313/2021/TT ngày 01/10/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận đối với Trần Thế B1 như sau:

+ Vết thương đa phần mềm vùng thái dương đỉnh trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: (3 x 0,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%

+ Vết thương phần mềm vùng mi dưới mắt trái hiện đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: (4,5 x 0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%

+ Vết thương phần mềm mặt sau khuỷu tay ph i đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước(2 x 01)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.

+ Vết thương phần mềm vùng gối trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: (3 x 2,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.

+ Vết thương phần mềm vùng gối ph i đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: (1 x 0,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.

+ Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Thế B1 do thương tích gây nên hiện tại là: 13%.

Tại b n kết luận giám định pháp y về thương tích số 346/2021/TT ngày 04/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận đối với Nguyễn Minh B2 như sau:

+ Chấn thương vùng cổ, dập tủy cổ C3 – C4 đã được điều trị, hiện yếu liệt tứ chi mức độ vừa. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 81%.

+ Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Minh B2 do thương tích gây nên hiện tại là: 81%.

V t chứng vụ án:

+ 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số 020130003641 mang tên Tô Văn L do Sở giao thông vận t i tỉnh Hà Giang cấp ngày 15/9/2016.

+ 01 xe ô tô 29H – 201.80; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô t i 29H – 201.80 (thế chấp ngân hàng); 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô t i 29H – 201.80 đã tr lại cho ông Nguyễn Khắc Chung (Đại diện cho chủ xe 29H – 201.80).

+ Đối với 01 xe mô tô ba bánh 61L8 – 7839 quá trình điều tra xác minh tên trong giấy Chứng nhận đăng ký không ph i chủ sở hữu của xe 61L8 – 7839 và qua tra cứu số khung số máy của xe mô tô ba bánh 61L8 – 7839 không có dữ liệu về đăng ký xe nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã chuyển đến đội CSGT Công an huyện H xác minh và xử lý theo quy định.

Về dân s :

+ Sau tai nạn Tô Văn L đã cùng ông Nguyễn Khắc Chung (Đại diện cho chủ xe 29H – 201.80) cho ông Trương Xuân S (là đại diện gia đình bị hại Trương Xuân T4, Lê Thị T3, Trương Xuân T5, Trương Thị Hồng T6) tổng số tiền 170.000.000 đồng. Ông Trương Xuân S đã nhận đủ số tiền và có đơn bãi nại không yêu cầu gì thêm.

+ Đối với thương tích của ông Nguyễn Minh B2, ông Nguyễn Khắc Chung (Đại diện cho chủ xe 29H – 201.80) đã hỗ trợ chi phí điều trị thương tích tổng số tiền 150.000.000 đồng. Anh B2 đã nhận đủ số tiền và có đơn bãi nại không yêu cầu gì thêm.

+ Đối với thương tích của anh Trần Thế B1, anh B1 không yêu cầu chủ xe 29H – 201.80 bồi thường chi phí điều trị thương tích mà yêu cầu bồi thường số tiền 40.000.000 đồng chi phí phẫu thuật thẩm mỹ do thương tích gây ra. Nay, anh Trần Thế B1 có đơn xin rút không yêu cầu bồi thường số tiền 40.000.000 đồng.

T i Bản án hình s sơ thẩm số 36/2022/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H, quyết định:

Căn cứ điểm a, điểm c kho n 1 Điều 260; Điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Tô Văn L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Tô Văn L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, B n án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Tô Văn L có đơn kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.

Quá trình gi i quyết vụ án theo trình tự thủ tục phúc thẩm: Ngày 06/10/2022, bị cáo Tô Văn L có đơn kháng cáo bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc gi i quyết vụ án: B n án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Tô Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, c kho n 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và tuyên phạt bị cáo mức án 24 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo L là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Ngoài ra các tài liệu thể hiện bị cáo là người dân tộc thiểu số, là lao động chính trong gia đình, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có ông nội và ông cố nội là liệt sỹ, có công với cách mạng, được tổ quốc ghi công. Đây là các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự mới chưa được xem xét tại Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b kho n 1 Điều 355, điểm c kho n 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa b n án sơ thẩm theo hướng gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 03 (ba) tháng đến 6 (sáu) tháng tù.

NH N ỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Tô Văn L trong thời hạn và đúng quy định pháp luật nên vụ án được xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm;

Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c kho n 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Tô Văn L:

Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào kho ng 23 giờ 00 phút ngày 31/7/2021, Tô Văn L điều khiển xe ô tô t i biển số 29H – 201.80 chở hàng từ Bình Dương về Hà Nội lưu thông trên Quốc lộ 1A, khi đến đoạn km 1770 + 300m QL1A thuộc thôn 1, T1, H, Bình Thuận, do buồn ngủ, không chú ý quan sát, đi không đúng làn đường quy định nên Tô Văn L đã không kịp xử lý để xe ô tô t i 29H – 201.80 do mình điều khiển đâm vào đuôi xe và hất văng xe mô tô ba bánh 61L8 – 7839 cùng gia đình ông Trương Xuân S (gồm ông Trương Xuân S cùng vợ Lê Thị T3, sinh 1976 và 3 con là Trương Xuân T4, sinh năm 2006; Trương Xuân T5, sinh năm 2010; Trương Thị Hồng T6, sinh năm 2018) và hai đồng chí công an là Trần Thế B1, Nguyễn Minh B2 (đang làm nhiệm vụ chốt chặn dịch bệnh Covid 19 tại đây) văng vào lề đường bên ph i gây ra tai nạn giao thông. Hậu qu cháu Trương Văn T4 tử vong tại chỗ, Trần Thế B1 bị thương tích 13%, Nguyễn Minh B2 bị thương tích 81%.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Tô Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, c kho n 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự và tuyên phạt bị cáo mức án 24 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo L là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Ngoài ra, sau khi kháng cáo, bị cáo cung cấp được tài liệu có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện: bị cáo là người dân tộc thiểu số, là lao động duy nhất trong gia đình, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có ông nội và ông cố nội là người có công với cách mạng, được Tổ quốc ghi công. Đây là các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại kho n 2 Điều 51 Bộ luật hình sự chưa được xem xét tại Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó cần xem xét gi m nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận là phù hợp.

Về nội dung kháng cáo xin hưởng án treo: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo gây hậu qu nghiêm trọng, làm 01 người chết, 02 người bị thương với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của 02 người là 94%. Do đó cần thiết ph i cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo.

[3] Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không ph i chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ỊNH:

Căn cứ vào điểm b kho n 1 Điều 355, điểm c kho n 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Tô Văn L. Sửa B n án hình sự sơ thẩm số 36/2022/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H.

Căn cứ điểm a, c kho n 1 Điều 260; điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Kho n 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;

1. Tuyên bố: Bị cáo Tô Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Tô Văn L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Tô Văn L không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 11/10/2022)./.

Cỡ chữ