- Tranh chấp gì? "Phan Anh T Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Anh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TAND QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ====== o0o ====== B¶n ¸n sè: 124/2018/ HSST Ngµy: 12/ 9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Sa Thị Phượng
Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thanh Loan
Bà Phan Thị Thủy Tiên Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Thanh Tùng - Cán bộ Toà án nhân dân quận Thanh Xuân. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Xuân Minh Hà - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 12 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 123/2018/HSST ngày 01 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: PHAN ANH T
- Sinh năm: 1980
HKTT: Số 06 ngõ Hàng Bông, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số 15 Tống Duy Tân, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phan Kim H (đã mất); con bà Vũ Thị L; Tiền án, tiền sự: Có 01 tiền án đã xóa; Danh chỉ bản số 240 lập ngày 19/3/2018 tại PC81B-HN. Hiện đang tạm giam tại trại giam số 1 - Công an Hà Nội. Bị cáo bị bắt ngày 16/3/2018; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo Phan Anh T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 17 giờ 30’ ngày 16/3/2018 Tổ công tác phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực đường Lê Trọng Tấn, phường K, quận T, thành phố Hà Nội phát hiện Phan Anh T điều khiển xe máy Atila BKS: 29E1-563.94 có biểu hiện phạm tội về ma túy. Khi T đi đến trước cửa nhà số 300 Lê Trọng Tấn, phường K, quận T, thành phố Hà Nội tổ công tác yêu cầu T dừng xe kiểm tra, T khai nhận cất giấu ma túy trong cốp xe. Tổ công tác đưa T cùng toàn bộ tang vật về trụ sở công an phường Khương Mai để giải quyết.
Cơ quan công an thu giữ gồm:
- 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 5x7cm bên trong chứa tinh thể
màu trắng.
- 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 4x6cm bên trong có chứa 50 viên
nén màu vàng.
- 01 xe máy Atila BKS: 29E1-563.94
- 01 điện thoại di động Iphone màu trắng
- 01 điện thoại Sam sung màu đen
- 01 điện thoại di động Nokia màu đen
- 01 ví da màu đen bên trong có 01 thẻ căn cước công dân số 001080013168
mang tên Phan Anh T.
- 3.000.000đồng.
Thu giữ tại nơi ở của T: 01 cân điện tử màu trắng và 01 đăng ký xe mang tên Đỗ Anh Thắng biển kiểm sát 29E1-563.94.
Theo kết quả giám định số 2011/KLGĐ-PC54 ngày 26/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon thu giữ của Phan Anh T là ma túy loại Ketamine, khối lượng 12,304gam; 50 viên nén màu vàng bên trong túi nilon thu giữ của Phan Anh T là ma túy MDMA, tổng khối lượng 21,225gam.
Theo kết quả giám định số 2020/KLGĐ-PC54 ngày 26/03/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội: Chiếc cân điện tử thu giữ của Phan Anh T không dính chất ma túy
Tại cơ quan điều tra, Phan Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Thông qua bạn bè giới thiệu, Phan Anh T biết ở khu vực hồ Ngọc Khánh, quận B, thành phố Hà Nội có người đàn ông tên H bán ma túy. Khoảng 16h ngày 16/3/2018 T điều khiển xe máy từ nhà đến khu vực hồ Ngọc Khánh để gặp người đàn ông tên H mua ma túy, T tìm gặp được Hùng và mua 50 viên thuốc lắc với giá 290.000đ/viên và một nửa uốn Ketamine với giá 16.000.000đồng để sử dụng cho bản thân và mang đi sinh nhật bạn. Sau khi mua được ma túy, T để số ma túy vào cốp xe và điều khiển xe về nhà bạn tên là Hoàng ở ngõ 230 Định Công Thượng, quận H, thành phố Hà Nội nhưng không gặp được H nên T quay về. Đến khoảng 17h30’ khi T về đến trước cửa nhà số 300 Lê Trọng Tấn, phường K, quận T, thành phố Hà Nội thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt giữ và thu giữ toàn bộ tang vật.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, T khai không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ.
Đối với người đàn ông tên H ở ngõ 230 Định Công Thượng, quận H, thành phố Hà Nội T khai không biết tên tuổi địa chỉ, cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát tại ngõ 230 Định Công Thượng, quận H, thành phố Hà Nội nhưng không phát hiện người tên H khoảng 35 tuổi nên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe Atila BKS: 29E1-563.94 là xe của bà Vũ Thị L (sinh năm: 1958, HKTT: Số 15 Tống Duy Tân, phường H, quận H, thành phố Hà Nội). Chiếc xe này bà L mua lại của con nuôi tên là anh Đỗ Anh T (sinh năm 1973, HKTT: P416B E3TT Vĩnh Hồ, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội) từ năm 2017 với giá 1.000.000đồng. Bà L không biết việc T mượn xe để mua ma túy. Chiếc xe là tài sản hợp pháp của bà L, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cùng đăng ký xe cho bà L, bà L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Đối với 01 điện thoại Sam Sung màu đen và 01 điện thoại di động Iphone màu trắng là điện thoại của T, T sử dụng để liên lạc cá nhân không liên quan đến hành vi mua bán ma túy của T, T đề nghị xin lại hai chiếc điện thoại trên và ủy quyền cho bà Vũ Thị Liên là mẹ của T nhận lại tài sản. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho bà L.
Đối với chiếc cân điện tử thu giữ tại nhà T, T khai của một người bạn cho T (T không nhớ ai cho), T chưa sử dụng chiếc cân vào mục đích gì. Đối với số tiền 3.000.000đồng thu giữ của T, T khai đó là tiền do T lao động tích góp mà có.
Tại bản Cáo trạng số: 120/CT-VKSTX ngày 24/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Phan Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo Phan Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g, khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phan Anh T từ 6 năm 6 tháng đến 7 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 12,304 gam Ketamine và 21,225 gam MDMA thu giữ của bị cáo. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiện Nokia; Trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước công dân số 001080013168 mang tên Phan Anh T và số tiền 3.000.000đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 ví da màu đen và 01 cân điện tử màu trắng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo;
XÉT THẤY
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận nội dung bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã công bố là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo Phan Anh T khai nhận: Vào hồi 16giờ ngày 16/3/2018 bị cáo đi đến khu vực hồ Ngọc Khánh, quận B, thành phố Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông tên là H ma túy MDMA và Ketamine với mục đích sử dụng cho bản thân và đi sinh nhật bạn. Khi bị cáo mang số ma túy trên trong người đến trước cửa nhà số 300 Lê Trọng Tấn, phường K, quận T, thành phố Hà Nội chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt giữ cùng toàn bộ tang vật. Tổng số ma túy bị cáo tàng trữ là Ketamine có trọng lượng 12,304gam và 21,225gam ma túy MDMA.
Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của nhân chứng cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được chứng minh bởi biên bản bắt người phạm tội quả tang và tang vật thu giữ được của vụ án được gửi đi giám định, căn cứ theo qui định của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ qui định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy, Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phan Anh T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội danh và hình phạt được qui định tại điểm g, khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những gây mất trật tự tại địa phương mà còn xâm phạm tới độc quyền quản lý biệt dược của Nhà nước. Ma tuý là một hiểm hoạ mà cả nhân loại đang ra sức loại trừ khỏi đời sống xã hội, nó làm ảnh hưởng tới sức khoẻ và kinh tế gia đình, làm huỷ hoại nhân cách con người và còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm hình sự khác.
Bị cáo là người đã trưởng thành, có nhận thức và khả năng làm chủ hành vi của mình, buộc phải nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật và nhận thức được tác hại của ma tuý để xa lánh nhưng do sử dụng ma túy mà bị cáo đã phạm tội. Bị cáo có 01 tiền án, mặc dù đã được xóa nhưng cũng thể hiện đã được pháp luật trừng trị, giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà vẫn phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và phải áp dụng đối với bị cáo một hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm về ma túy.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, T khai không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với người đàn ông tên H ở ngõ 230 Định Công Thượng, quận H, thành phố Hà Nội T khai không biết tên tuổi địa chỉ, cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát tại địa chỉ trên nhưng không phát hiện người tên H khoảng 35 tuổi do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ nên Hội đồng xét xử không xét.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe Atila BKS: 29E1-563.94 là xe của bà Vũ Thị L (sinh năm: 1958, HKTT: Số 15 Tống Duy Tân, phường H, quận H, thành phố Hà Nội). Chiếc xe này bà L mua lại của con nuôi tên là anh Đỗ Anh T (sinh năm 1973, HKTT: P416B E3TT Vĩnh Hồ, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội) từ năm 2017 với giá 1.000.000 đồng. Bà Liên không biết việc T mượn xe để mua ma túy. Chiếc xe là tài sản hợp pháp của bà L, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cùng đăng ký xe cho bà L, bà L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với 01 điện thoại Sam Sung màu đen và 01 điện thoại di động Iphone màu trắng là điện thoại của T, T sử dụng để liên lạc cá nhân không liên quan đến hành vi mua bán ma túy của T, T đề nghị xin lại hai chiếc điện thoại trên và ủy quyền cho bà Vũ Thị L là mẹ của T nhận lại tài sản. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho bà L nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen, xét thấy T đã sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần quyết định tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc cân điện tử thu giữ tại nhà T, T khai của một người bạn cho T (T không nhớ ai cho), T chưa sử dụng chiếc cân vào mục đích gì. Tại phiên tòa T khai không có giá trị sử dụng và không có yêu cầu trả lại nên cần quyết định tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc ví da màu đen thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo khai chiếc ví đã cũ không còn giá trị sử dụng nên không yêu cầu trả lại nên cần quyết định tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 thẻ căn cước công dân số 001080013168 mang tên Phan Anh T bị thu giữ của T, xét đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần quyết định trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 3.000.000đồng thu giữ của T, T khai đó là tiền do T lao động tích góp mà có, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần quyết định trả lại cho bị cáo.
Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý tang vật: Toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo Phan Anh T là 12,304 gam Ketamine và 21,225 gam ma túy MDMA cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố bị cáo Phan Anh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng: Điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự., Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 48 Bộ luật hình sự.
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử phạt: Bị cáo Phan Anh T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2018.
Về xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của phòng CSĐT tội phạm về ma túy (C47) và chữ ký của Phan Anh T, chữ ký của giám định viên Phạm Đình Đạo, chữ ký của Doãn Đức Duy cán bộ đội 7-PC47 bên trong có 12,304 gam Ketamine và 21,225 gam MDMA (đã lấy mẫu giám định).
-Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín bên ngoài có dấu niêm phong của phòng CSĐT tội phạm về ma túy (C47) và chữ ký của người chứng kiến Phan Ngọc Bích, chữ ký của giám định viên Phạm Đình Đạo, chữ ký của Tạ Bình Minh cán bộ đội 7-PC47 bên trong có 01 (một) cân điện tử màu trắng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ví da màu đen.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng bên trong có lắp sim 0985919559, không lên nguồn, không kiểm tra được chất lượng bên trong.
-Trả lại cho bị cáo Phan Anh T 01 thẻ căn cước công dân số 001080013168 mang tên Phan Anh T.
Toàn bộ vật chứng đang được thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/9/2018.
-Trả lại cho bị cáo Phan Anh T số tiền 3.000.000đồng (ba triệu đồng). Vật chứng hiện đang được thu giữ trong tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân số 3949, mã CTMT.DA và HTCT. Tại kho bạc Nhà nước (NH) Thanh Xuân – Hà Nội. Theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử lập ngày 11/9/2018.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Anh T phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội. - VKSND quận Thanh Xuân - Thi hành án Q.Thanh Xuân. - Bị cáo - Lưu hồ sơ vụ án. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA SA THỊ PHƯỢNG |