vanban.org

Bản án 124/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 17/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Minh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,1102 gam ma túy, loại Methamphetamine mẫu gửi giám định và toàn bộ bao gói thu của giữ của Vũ Minh D được niêm trong phong bì (hoàn trả mẫu vật sau… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo D - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Minh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2026/HS-ST
Ngày 17-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. ông Đinh Ngọc Phức

2. ông Trần Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Toan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2026/TLST- HS ngày 23 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Vũ Minh D, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1993, tại xã P, tỉnh Hưng Yên; số căn cước công dân: 034093008554, ngày cấp: 29/4/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú: thôn A (thôn Đ cũ), xã P, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa:8/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Vũ Minh T và bà Nguyễn Thị M; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/3/2026 đến ngày 01/4/2026 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đ, PC11B, Công an tỉnh H; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

* Những người chứng kiến: 1. Ông Trần Danh T1, sinh năm 1971 2. Ông Bùi Tất K, sinh năm 1966 Đều cư trú: thôn A, xã P, tỉnh Hưng Yên (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: hồi 06 giờ 30 phút ngày 26/3/2026, tổ công tác Công an xã P, tỉnh Hưng Yên làm nhiệm vụ tại đường T, xã P, tỉnh Hưng Yên phát hiện Vũ Minh D đi bộ có biểu hiện liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Tổ công tác kiểm tra, phát hiện ở túi quần trước bên phải Dự mặc 01 gói nilon trong suốt được hàn nhiệt kín ở các mép, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, D khai là gói ma túy, loại Methamphetamine mua với số tiền 300.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang trước đại diện Ủy ban nhân dân xã P và người chứng kiến ông Trần Danh T1 và ông Bùi Tất K; thu mẫu nước tiểu, niêm phong gói vật chứng trưng cầu giám định. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của D không phát hiện, thu giữ đồ vật gì.

Tại bản kết luận giám định số 801/KL-KTHS, ngày 30/3/2026 của Phòng K1, Công an tỉnh H kết luận:“Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamin, có khối lượng 0,1459 gam. Methamphetamine STT: 267, danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 28/2026/NĐ-CP, ngày 19/01/2026 của Chính Phủ”.

Tại bản kết luận giám định số 802/KL-KTHS, ngày 30/3/2026 của Phòng K1, Công an tỉnh H kết luận: “Trong mẫu nước tiểu của Vũ Minh D gửi giám định không tìm thấy ma túy, sản phẩm chuyển hóa của ma túy”.

Bản cáo trạng số 75/CT-VKSHYN-KV, ngày 19/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Vũ Minh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa bị cáo khai: khoảng 05 giờ 30 phút ngày 26/3/2026, bị cáo đi bộ ra đường mới gần cầu N, thôn H, xã V, thành phố Hải Phòng bị cáo gặp hỏi mua ma túy của người phụ nữ mặc áo khoác đen, đeo khẩu trang, ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Visson, màu sơn xanh, không biết biển số, dựng ở bên đường A gói nilon trong suốt chứa các hạt tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine với số tiền 300.000 đồng để sử dụng (bị cáo sử dụng ma túy loại Methamphetamine, bị cáo chưa cai nghiện, không điều trị nghiện chất ma túy bằng thuốc thay thế). Sau khi mua được ma túy bị cáo giấu gói ma túy ở túi quần trước bên phải đang mặc đi bộ về thôn A, xã P tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): tuyên bố bị cáo Vũ Minh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; xử phạt bị cáo Vũ Minh D từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/3/2026; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu để tiêu huỷ toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo Vũ Minh D trong phong bì niêm phong số 801/KL-KTHS của Phòng K1 công an tỉnh H. Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: lời khai của bị cáo Vũ Minh D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H lập ngày 26/3/2026; biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập ngày 26/3/2026; biên bản ghi lời khai của người chứng kiến ông Trần Danh T1 và ông Bùi Tất K cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: hồi 06 giờ 30 phút ngày 26/3/2026, tại đường T, xã P, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Vũ Minh D có hành vi tàng trữ trái phép trong túi quần trước bên phải 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1459 gam, mục đích để sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Minh D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Điều luật quy định như sau:

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

...;

c) Heroine, C, M1, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Vũ Minh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo Vũ Minh D thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến giống nòi và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: bị cáo có nhân thân tốt. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Từ những nhận định trên, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra Công an tỉnh H thu của bị cáo D ngày 26/3/2026: bị cáo khai bị cáo mua ma túy của người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ với số tiền 300.000 đồng để sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

[8] Về vật chứng của vụ án: toàn bộ số ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H thu giữ, quản lý của bị cáo D được niêm phong số 801/KL-KTHS của Phòng K1 công an tỉnh H là vật chứng của vụ án cần tịch thu để tiêu hủy.

[9] Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Minh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Vũ Minh D 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/3/2026.

3. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,1102 gam ma túy, loại Methamphetamine mẫu gửi giám định và toàn bộ bao gói thu của giữ của Vũ Minh D được niêm trong phong bì (hoàn trả mẫu vật sau giám định) niêm phong số 801/KL-KTHS của Phòng K1 công an tỉnh H.

Toàn bộ vật chứng của vụ án do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Hưng Yên quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/6/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Hưng Yên.

4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Minh D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Vũ Minh D có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thµnh viªn héi ®ång xÐt xö

Nguyễn Bích Thủy

Cỡ chữ