- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị M-Nguyễn Văn S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2026/HNGĐ-ST. Ngày: 27-8-2026. V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DÂN
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Yến Nhi.
Bà Lê Thị Nhường.
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Kiến Hòa – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 244/2026/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2026 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1984;
ĐKTT: Số C, ấp H (trước đây là ấp H), xã H, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ liên lạc: Công ty U – Khu Công nghiệp G, xã G, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Số C, ấp H (trước đây là ấp H), xã H, tỉnh Vĩnh Long.
Tại phiên tòa, bà M và ông S vắng mặt (bà M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông S vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản khai, đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn S tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2010. Ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Vĩnh Long) số 68/2010, quyển số I/2020 ngày 18/10/2010. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và tính tình không hợp, không có tiếng nói chung. Vì hạnh phúc gia đình và tương lai của con cái, bà đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả và ông bà không chung sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Thời gian qua ông bà không quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống. Nay bà xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nếu kéo dài cuộc sống hôn nhân sẽ làm đau khổ cho nhau nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S. Bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng cho bà sau khi ly hôn.
Bà và ông S có 01 người con chung là Nguyễn Nhật M1, sinh ngày 21/7/2012, hiện con chung đang sống với bà. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng cho con.
Bà và ông S tự thỏa thuận về tài sản chung, ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bà phải đi làm, xin nghỉ làm rất khó mà ông S không đến tham gia vụ án để cho bà phải đến Tòa án nhiều lần. Vì vậy, bà đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt bà.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:
- Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Bị đơn không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Về việc giải quyết vụ án: căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M:
- Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
- Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Nhật M1, sinh ngày 21/7/2012 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận bà Nguyễn Thị M không yêu cầu ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: bà Nguyễn Thị M khai không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông S. Ông S cư trú tại xã H, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long.
Bà M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ theo quy định tại các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà M và ông S.
[2] Về quan hệ hôn nhân: bà M và ông S tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 18/10/2010 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà M thì trong quá trình chung sống bà và ông S đã phát sinh mâu thuẫn nhưng ông bà không tự giải quyết được để mâu thuẫn kéo dài và ông bà không chung sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Vì vậy, bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S. Với yêu cầu ly hôn của bà M, ông S không có ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bỏ mặc cho bà M tự giải quyết.
Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Tình nghĩa vợ chồng”:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
Hội đồng xét xử xét thấy, bà M và ông S không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và đã không chung sống với nhau trong thời gian dài nên ông bà không còn tình nghĩa vợ chồng. Như vậy, hôn nhân của bà M và ông S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông S là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: theo hồ sơ vụ án và lời trình bày của bà M thì bà và ông S có 01 người con chung tên Nguyễn Nhật M1, sinh ngày 21/7/2012, hiện đang sống với bà M. Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, ông S không có ý kiến phản đối với yêu cầu này của bà M.
Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Xét thấy, hiện con chung Nguyễn Nhật M1 đang sống với bà M nên có sự gắn bó thân thiết với nhau, đồng thời con có nguyện vọng muốn sống với bà M. Như vậy, nhằm bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con nên Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Nhật M1 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng cho con: tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” và tại khoản 1 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này…”. Tuy nhiên, do bà M không yêu cầu ông S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: bà M trình bày bà và ông S tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với ông S thì vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010850 ngày 04/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà M đã nộp đủ án phí.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
1.2. Về con chung:
Giao con chung Nguyễn Nhật M1, sinh ngày 21/7/2012 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Ghi nhận bà Nguyễn Thị M không yêu cầu ông Nguyễn Văn S cấp dưỡng cho con.
Ông Nguyễn Văn S được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng cho con.
Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: bà Nguyễn Thị M trình bày bà và ông Nguyễn Văn S tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với ông Nguyễn Văn S thì vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010850 ngày 04/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Nguyễn Thị M đã nộp đủ án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 7 - Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long; - TAND tỉnh Vĩnh Long; - Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Mộng Tuyền |