vanban.org

Bản án 124/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tạ N Ph phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Tạ N Ph 09 (Chín) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Ngọc Ph - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tạ N Ph phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Tạ N Ph 09 (Chín) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 124/2025/HS-ST
Ngày 28 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên và bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2025/HSST, ngày 27 tháng 5 năm 2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2025/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo.

Họ và tên: Tạ N Ph (Tên gọi khác: Không có) - Sinh năm 1959; Nơi sinh: Tỉnh Điên Biên; Nơi đăng ký NKTT: Thôn H C, xã Th, huyện Đ, tỉnh B; Chỗ ở trước khi bị bắt: Bản X, xã Th, huyện Đ, tỉnh B; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Đ C (đã chết) và bà Đinh Thị H (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963 (ly hôn năm 1996); năm 2012 Ph sống chung với Lò Thị A như vợ chồng, sinh năm 1964; Bị cáo có ba con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ nhất sinh năm 1992.

Tiền sự: Không;

Tiền án: 02 tiền án, tại Bản án số: 102/2014/HSST ngày 16/4/2014 Tạ N Ph bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 17/01/2020 chấp hành xong án phạt tù và Bản án số: 226/2020/HSST ngày 25/9/2020 Tạ N Phbị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt 04 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 30/01/2024 chấp hành xong hình phạt tù.

Nhân thân:

Bản án số: 14/2004/HSST ngày 11/11/2004 Tạ N Phbị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã được xoá án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2025, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 10/3/2025, Tạ N Ph đi bộ từ quán nhà mình ở bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên đến khu vực đường thuộc bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên, thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái tự giới thiệu tên là Minh nhà ở xã Noong Luống, huyện Điện Biên (Phúc không biết họ, tên đệm và địa chỉ của người này) 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có Heroine và Methamphetamine được để trong lọ nhựa màu trắng và vỏ bóng đèn led màu trắng, với giá 1.500.000 đồng, mục đích để bán và sử dụng. Mua xong, Phúc cất ma túy vào túi quần bên phải đang mặc, rồi đi bộ về. Hồi 08 giờ 00 phút cùng ngày, khi Phúc đang đi trên đường thuộc khu vực bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an xã Thanh An, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải Phúc đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 lọ nhựa màu trắng chứa 142 viên Methamphetamine, có khối lượng 13,39 gam và 01 vỏ bóng đèn led màu trắng, bên trong có 26 gói nilon màu xanh và 09 gói nilon màu hồng đều chứa Heroine có tổng khối lượng 3,45 gam. Tổng khối lượng hai chất ma túy là 16,84 gam.

Vật chứng: 13,39 gam Methamphetamine và 3,45 gam Heroine đã gửi toàn bộ giám định, mẫu vật hoàn lại sau giám định là 12,9 gam; Methamphetamine và 2,62 gam Heroine; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 26 mảnh nilon màu xanh; 09 mảnh nilon màu hồng; 01 lọ nhựa màu trắng; 01 vỏ bóng đèn led màu trắng.

Tại bản kết luận giám định số: 215/KL-KTHS ngày 18/3/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

Mẫu viên nén màu hồng ký hiệu M1 gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Khối lượng vật chứng: 13,39gam. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 12,9gam Methamphetamine.

Mẫu bột màu trắng ký hiệu M2, M3 gửi giám định là chất ma túy: Khối lượng vật chứng: 3,45 gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, túy STT: 9, mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 2,62 gam Heroine.

Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKSHĐB ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Tạ N Phvề tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm p, q khoản 2 Điều 251/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Tạ N Ph từ 08 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu huỷ 12,9gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định và 2,62 gam Heroine còn lại sau khi giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 26 mảnh nilon màu xanh; 09 mảnh nilon màu hồng; 01 lọ nhựa màu trắng; 01 vỏ bóng đèn led màu trắng.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người quả tang, biên bản niêm phong, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng chất ma tuý; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 08 giờ 00 phút ngày 10/3/2025, tại khu vực thuộc bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, Tạ N Phđã cất giấu trái phép trên người 13,39 gam Methamphetamine và 3,45 gam Heroine, tổng khối lượng hai chất ma túy là 16,84 gam, mục đích để bán kiếm lời và sử dụng. Bị cáo còn hai tiền án, chưa được xoá án tích, đã bị áp dụng tình tiết “Tái phạm”, nay thực hiện hành vi phạm tội do cố ý lên phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p, q khoản 2 Điều 251/BLHS.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phén chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”;

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 07 năm đến 15 năm;

… p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các

chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;

q) Tái phạm nguy hiểm.

. Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán lẻ kiếm lời của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để bán lẻ kiếm lời, bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52/BLHS.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạnh nhất và mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS.

Về nhân thân: Bản án số: 14/2004/HSST ngày 11/11/2004 Tạ N Phbị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

. Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo để trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người cao tuổi, không có tài sản gì có giá trị, bị cáo đi chấp hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành.

. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: 13,39 gam Methamphetamine và 3,45 gam Heroine đã gửi toàn bộ giám định, mẫu vật hoàn lại sau giám định là 12,9gam; Methamphetamine và 2,62 gam Heroine; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 26 mảnh nilon màu xanh; 09 mảnh nilon màu hồng; 01 lọ nhựa màu trắng; 01 vỏ bóng đèn led màu trắng quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

. Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để làm rõ. Do vậy HĐXX không có cơ sở xem xét trong vụ án.

. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

. Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Tạ N Ph phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Tạ N Ph 09 (Chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (10/3/2025).

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 12,9gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định và 2,62 gam Heroine còn lại sau khi giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 26 mảnh nilon màu xanh; 09 mảnh nilon màu hồng; 01 lọ nhựa màu trắng; 01 vỏ bóng đèn led màu trắng.

(Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2025);

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/6/2025). Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND HĐB;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an;

- Cơ quan THAHS HĐB;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

- Chi cục THADS HĐB;

Trần Thị Thương Huyền

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thương Huyền Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTPĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

- Chi cục THADS TP ĐBP;

Trần Thị Thương Huyền

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTPĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

Trần Thị Thương Huyền

- Chi cục THADS TP ĐBP;

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thương Huyền

Cỡ chữ