vanban.org

Bản án 124/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 31/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Thị Bích T, Cung Thế Hải L và Lê Lan P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ được tính từ ngày 08/8/2024. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ được tính từ ngày 08/8/2024.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Quyết - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Thị Bích T, Cung Thế Hải L và Lê Lan P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HSST
Ngày: 31/12/2024

Toµ ¸n nh©n d©n HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, thµnh phè HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Sơn Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chiều và ông Nguyễn Huy Hoàn

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Dung, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/HSST ngày 04 tháng 12 năm 2024, theo Q định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-HS ngày 11/12/2024, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1987; Giới tính: Nam; ĐKHKTT : Khu 11, phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Hồng Quân, sinh năm 1953; Con bà: Phạm Thị Vinh, sinh năm 1958; Có vợ là: Nguyễn Thị Huệ, sinh năm 1990; Con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 29/9/2006 bị Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Danh chỉ bản số 257 lập ngày 17/8/2024 tại Công an huyện Đan Phượng.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 2000; Giới tính: Nữ; ĐKHKTT : Tổ 7, phường Mai Động, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Hữu, sinh năm 1972; Con bà: Nguyễn Thị Huyền, sinh năm 1979; Có chồng là: Nguyễn Ngọc Anh, sinh năm 1991; Có 02 con, Lớn SN 2020, nhỏ SN 2022.

Tiền án, tiền sự: Không

Danh chỉ bản số 255 lập ngày 17/8/2024 tại Công an huyện Đan Phượng

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Cung Thế Hải L, sinh năm 2003; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và ở: Tổ 23, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Cung Tuấn Anh, sinh năm 1977; Con bà: Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1982; Vợ con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không

Danh chỉ bản số 256 lập ngày 17/8/2024 tại Công an huyện Đan Phượng

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024. Hiện đang bị tạm tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đan Phượng. Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Lê Lan P, sinh năm 2001; Giới tính: Nữ; ĐKHKTT: Tổ 9, phường Đồng Tiến, thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn Ngọc, sinh năm 1973; Con bà: Phạm Thị Oanh, sinh năm 1973.

Tiền án, tiền sự: Không

Danh chỉ bản số 254 lập ngày 16/8/2024 tại Công an huyện Đan Phượng

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đan Phượng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 40 phút ngày 07/08/2024, tại khu chung cư Xphomes Đan Phượng thuộc khu đô thị Tân Tây Đô, xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Công an huyện Đan Phượng phát hiện Lê Việt Hoàng (sinh năm 1999; trú tại thôn Trung Khê, xã P Đình, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định) đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 18B2-520.95 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện Hoàng đang cầm tay phải 01 hộp giấy màu nâu, kích thước (11x12x20) cm bên trong có 01 túi ni L màu trắng trong, kích thước khoảng (6x12) cm chứa T mộc khô. Ngay tại nơi kiểm tra, Hoàng khai là Nhân viên giao hàng công nghệ và có nhận 01 hộp giấy trên từ Cung Thế Hoàng L (sinh năm 2003; trú tại tổ 23, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) tại phòng 401, số nhà 15B, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, đây là phòng trọ của Nguyễn Thị Bích T (sinh năm 2000; trú tại tổ 7, phường Mai Động, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) và Nguyễn Ngọc Q (sinh năm 1987; trú tại khu 11, phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Tổ công tác đã thu giữ của Hoàng 01 hộp giấy trên cùng 01 điện thoại động nhãn hiệu Iphone màu xanh có lắp sim 0395112478 và chiếc xe máy biển kiểm soát 18B-520.95.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Bích T tại phòng 401, số nhà 15B, ngõ 84, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã phát hiện và thu giữ các đồ vật, tài sản gồm:

- Thu giữ trên mặt bàn trong phòng 401 gồm 01 lọ thủy tinh trong suốt hình trụ tròn, nắp đậy màu đen, bên trong có chứa T mộc khô (T khai là ma túy cần sa) (ký hiệu M1); 01 hộp hình chữ nhật bằng nhựa màu nâu, kích thước khoảng (20x25x30) cm, bên trong hộp nhựa có chứa T mộc khô (T khai là ma túy cần sa) (ký hiệu M2); 01 hộp giấy bằng bìa cứng màu hồng - tím, hình hộp chữ nhật, kích thước khoảng (05x15x25)cm, bên trong chứa T mộc khô (T khai là ma túy cần sa) (ký hiệu M3); 01 túi ni lông màu trắng trong, kích thước khoảng (20x30)cm, bên trong có chứa T mộc khô (T khai là ma túy cần sa) (ký hiệu M4); 01 cân tiểu ly màu xanh đen (đã qua sử dụng); 01 cối xay hình trụ tròn bằng nhựa màu đen, đường kính khoảng 5 cm, trên cối xay có in chữ “RAN” màu đỏ.

- Thu giữ dưới sàn nhà trong phòng 401 gồm: 01 hộp giấy Carton màu nâu hình hộp chữ nhật, kích thước khoảng (5x12x20) cm, bên trong có 01 túi ni lông mảu trắng trong, kích thước khoảng (6x12) cm chứa T mộc khô (T khai là ma túy cần sa) (ký hiệu M6); 01 hộp giấy Carton màu nâu hình hộp chữ nhật, kích thước khoảng (05x12x20)cm, bên trong có 02 túi ni lông màu trắng trong, kích thước mỗi túi đều khoảng (06x12)cm, bên trong cả 02 túi ni lông đều chứa T mộc khô (T khai là ma túy cần sa) (ký hiệu M5); 01 máy hàn nhiệt màu đỏ- đen (đã qua sử dụng); 03 hộp giấy Carton màu nâu (chưa sử dụng); 10 túi ni lông màu trắng trong, kích thước mỗi túi đều khoảng (06x12)cm (chưa qua sử dụng).

Ngày 08/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Thị Bích T, Cung Thế Hải L để điều tra về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đồng có lắp sim số 0981240420; thu giữ của Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen xám có lắp sim số 0834499078 và thu giữ của L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu vàng có lắp sim số 0963228662. Đến ngày 10/8/2024, Lê Lan P (sinh năm 2001; trú tại tổ 9, phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình) đến Cơ quan điều tra đầu thú khai nhận về hành vi giúp sức cho Q và T trong việc mua bán ma túy. Cơ quan điều tra thu giữ của P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đen, mặt sau bị nứt có lắp sim số 0888666089.

Tại bản Kết luận giám định số 5872/KL-KTHS, ngày 17/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận (Bút lục số 131): “…1. Tang vật thu giữ của Lê Việt Hoàng có: T mộc khô bên trong 01 túi niL màu trắng là Cần sa, khối lượng 3,060 gam

2. Tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Bích T gồm: Niêm phong ký hiệu mẫu M1: T mộc khô bên trong 01 túi niL màu trắng là Cần sa, khối lượng 44,680 gam; niêm phong ký hiệu mẫu M2: T mộc khô bên trong 01 túi niL màu trắng là Cần sa, khối lượng 43,210 gam; niêm phong ký hiệu mẫu M3: T mộc khô bên trong 01 túi niL màu trắng là Cần sa, khối lượng 106,850 gam; niêm phong ký hiệu mẫu M4: T mộc khô bên trong 01 túi niL màu trắng là Cần sa, khối lượng 76,720 gam; niêm phong ký hiệu mẫu M5: T mộc khô bên trong 02 túi niL màu trắng đều là Cần sa, tổng khối lượng 25,250 gam và niêm phong ký hiệu mẫu M6: T mộc khô bên trong 01 túi niL màu trắng là Cần sa, khối lượng 5,440 gam”.

Quá trình điều tra đã xác định, Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn Ngọc Q có quan hệ tình cảm nam nữ với nhau và thuê phòng 401, số nhà 15B, ngõ 84, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội để ở. Do hám lời nên Q và T nảy sinh ý định mua ma túy Cần sa về bán. Ngày 02/8/2024, Q và T sử dụng tài khoản Telegram “Doanuytin” mua 8.000.000 đồng ma túy Cần sa của một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) có tài khoản Telegram “Lão Hứa”; T và Q chuyển trước 4.000.000 đồng, còn nợ 4.000.000 đồng. Đến ngày 04/8/2024, T và Q mua được ma túy Cần sa và cất giấu tại phòng trọ 401. Sau đó, T sử dụng tài khoản Facebook “Giáo Sư Tý” đăng bán ma túy trên mạng xã hội facebook và trực tiếp thực hiện giao dịch mua bán với người mua. Cùng ngày, T và Q thuê Lê Lan P thực hiện việc thu chi, kiểm soát số lượng đơn hàng ma túy, số tiền thu được từ việc bán ma túy cần sa và thuê Cung Thế Hoàng L cân, đóng gói, vận chuyển ma túy Cần sa đến người mua theo thông tin T báo cho L với tiền công 330.000 đồng/ngày. Đến ngày 07/8/2024, T đã chốt được 04 đơn mua ma túy Cần sa, cụ thể: Đơn thứ nhất, khách hỏi mua 2,5 gam ma tuý Cần sa với giá 500.000 đồng đến địa chỉ đường Lê Đức Thọ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội (đơn này T nhận lại của người có tài khoản “Lão Hứa” để ăn phần trăm (chưa thanh toán tiền); đơn thứ hai, khách hỏi mua 10 gam ma tuý Cần sa với giá 1.000.000 đồng đến địa chỉ xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (Chưa thanh toán tiền); đơn thứ ba, người khách hỏi mua 03 gam ma tuý Cần sa với giá 700.000 đồng đến địa chỉ khu đô thị Tân Tây Đô, xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội (người này đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng MBBank đứng tên Nguyễn Ngọc Q do T quản lý); đơn thứ tư, khách hỏi mua 10 gam ma tuý Cần sa với giá 1.250.000 đồng đến địa chỉ phố Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái (Chưa thanh toán tiền). Sau khi nhận được đơn hàng, T chuyển toàn bộ thông tin số lượng ma túy, địa chỉ người mua cho L để L cân, đóng gói và chuyển đi. Từ khoảng 10 giờ đến 16 giờ 00 phút ngày 07/8/2024, L nhận được đơn hàng do T thông báo, L đến phòng trọ số 401 của T, Q để cân, đóng gói 03 đơn hàng ma tuý Cần sa gồm: 01 gói chứa 2,5gam ma túy Cần sa gửi đến địa chỉ đường Lê Đức Thọ; 01 gói chứa 03 gam ma túy Cần sa gửi đơn đến khu đô thị Tân Tây Đô và 01 gói chứa 10 gam ma túy Cần sa gửi đến thành phố Yên Bái; còn đơn hàng đi xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh thì L quên chưa đóng gói. Quá trình đóng gói, P gọi hỏi L về số lượng đơn hàng đã đóng gói để đối chiếu với đơn hàng mà T nhận được trong ngày xem có khớp nhau không thì L nói đóng được 03 đơn hàng. Khoảng 16 giờ 00 cùng ngày, sau khi đóng gói đơn hàng xong, L đặt giao hàng qua ứng dụng “Bee” với anh Lê Việt Hoàng. Tại phòng trọ của T và Q, L đưa cho anh Hoàng 01 đơn hàng gửi đến đường Lê Đức Thọ và 01 đơn hàng gửi đến khu đô thị Tân Tây Đô. Còn đơn thứ ba chứa 10 gam ma túy Cần sa gửi đến thành phố Yên Bái thì L chưa chuyển đi. Sau khi nhận được đơn hàng, anh Hoàng đã giao 01 đơn chứa 2,5 gam ma túy Cần sa gửi đến một người đàn ông khoảng 20 tuổi (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) tại đường Lê Đức Thọ rồi cầm 01 đơn chứa 03 gam ma túy Cần sa đến khu đô thị Tân Tây Đô. Khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, khi anh Hoàng đến khu chung cư XPhomes Star, khu đô thị Tân Tây Đô, xã Tân lập, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, chưa kịp giao cho người mua hàng thì bị Công an huyện Đan Phượng kiểm tra, phát hiện, thu giữ.

Đối với người đàn ông bán trái phép ma túy cho Q và T; và những người đàn ông mua trái phép ma túy của Q và T, do Q, T, L, anh Hoàng khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.

Đối với anh Lê Việt Hoàng, kết quả điều tra xác định anh Hoàng không biết bên trong 02 gói hàng L đưa đi giao cho người mua là ma túy nên không có căn cứ để xử lý. Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-520.95 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh bên trong lắp sim số 0395112478 thu giữ của anh Hoàng, kết quả điều tra xác định là của anh Hoàng, không liên quan đến việc mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu.

Tại Bản cáo trạng số 125/CT-VKS ngày 30/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng Q định truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Thị Bích T, Cung Thế Hải L, Lê Lan P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, TP Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Cung Thế Hải L 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

+ Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo Lê Lan P 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

+ Xét về hình phạt bổ sung, các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 07 bao gói ma túy sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 cối xay hình trụ tròn bằng nhựa màu đen; 01 lọ thuỷ tinh trong suốt hình trụ tròn, đã qua sử dụng; 10 túi ni lông màu trắng trong, kích thước mỗi túi khoảng 06x12 cm; 01 hộp giấy bằng bìa cứng màu hồng - tím, đã qua sử dụng, kích thước khoảng 05x15x25 cm; 01 hộp bằng nhựa hình chữ nhật màu nâu, kích thước khoảng 20x25x30 cm; 01 máy hàn nhiệt màu đỏ - đen đã qua sử dụng; 01 cân tiểu li màu xanh - đen đã qua sử dụng; 03 hộp giấy các tông màu nâu chưa qua sử dụng. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen - xám đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng - đồng đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh - đen đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim và truy thu 700.000 đồng của T.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng, TP Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, TP Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Do hám lời nên Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn Ngọc Q nảy sinh ý định mua ma túy Cần sa về cất giấu tại phòng trọ số 401, số nhà 15B, ngõ 84, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội để bán trái phép. Ngày 02/8/2024, T và Q đã mua 8.000.000 đồng ma túy Cần sa với tổng khối lượng 307,21 gam của một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) có tài khoản Telegram “Lão Hứa”, đã thanh toán 4.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T, Q đăng bán trên tài khoản Facebook “Giáo Sư Tý” và thuê Lê Lan P kiểm soát việc thu chi mua bán ma túy, thuê Cung Thế Hải L cân, đóng gói, vận chuyển ma túy và trả công mỗi ngày cho P, L 330.000 đồng. Ngày 07/8/2024, T đã chốt được 04 đơn ma túy sau đó, T thông báo cho L các đơn hàng trên để đóng gửi đi cho khách. L giao cho anh Lê Việt Hoàng 02 đơn gồm 01 đơn đến Lê Đức Thọ và 01 đơn đến Tân Tây Đô là hai người mua khác nhau. Sau khi giao xong đơn ở Lê Đức Thọ, anh Hoàng giao đơn thứ hai đến Tân Tây Đô thì bị Cơ quan công an huyện Đan Phượng phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Quá trình khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của Nguyễn Thị Bích T, kết quả thu giữ 302,15 gam ma túy Cần sa.

Hành vi của cac bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo về hành vi như trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho các đối tượng mua bán trái phép chất ma túy, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, là nguồn gốc phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong nhân dân. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo để cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thị Bích T, Cung Thế Hải L, Lê Lan P lần đầu bị đưa ra xét xử, bị cáo Lê Lan P sau khi bị phát hiện đã ra đầu thú nên được còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét vai trò của các bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Ngọc Q và Nguyễn Thị Bích T có vai trò chính là người trực tiếp mua ma tuý, cất giấu và đăng bài bán ma tuý, bị cáo Q có nhân thân xấu nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất, sau đó đến bị cáo T. Các bị cáo Cung Thế Hải L và Lê Lan P có vai trò giúp sức cho các bị cáo, biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nên căn cứ vào cáo tình tiết giảm nhẹ Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt tương xứng với các bị cáo.

Đối với người đàn ông bán trái phép ma túy cho Q và T; và những người đàn ông mua trái phép ma túy của Q và T, do không xác định được những người này là ai, ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý là có căn cứ.

Đối với anh Lê Việt Hoàng, kết quả điều tra xác định anh Hoàng chỉ là nhân viên giao hàng, không biết bên trong 02 gói hàng là ma tuý. 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-520.95 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh bên trong lắp sim số 0395112478 thu giữ của anh Hoàng không liên quan đến việc mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

Xét các bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng và Biện pháp tư pháp:

+ Bị cáo T thu lời bất chính số tiền 700.000 đồng từ mua bán ma tuý, số tiền này đã chuyển vào tài khoản Nguyễn Ngọc Q do T quản lý do đó cần buộc bị cáo nộp số tiền trên để sung quỹ Nhà nước.

+ 07 bao gói sau giám định của phòng PC09 CATP Hà Nội bên trong chứa tang vật là ma tuý còn lại sau giám định, được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên niêm phong; 01 cối xay hình trụ tròn bằng nhựa màu đen, in chữ “RAW”, 01 lọ thuỷ tinh trong suốt hình trụ tròn, đã qua sử dụng; 10 túi ni lông màu trắng trong, kích thước mỗi túi khoảng 6x12cm; 01 hộp giấy bằng bìa cứng màu hồng – tím đã qua sử dụng, kích thước khoảng 05x15x25cm; 01 hộp bằng nhựa hình chữ nhật màu nâu kích thước 20x25x30cm; 01 máy hàn nhiệt màu đỏ - đen đã qua sử dụng; 01 cân tiểu lý màu xanh – đen đã qua sử dụng; 03 hộp giấy cát tông màu nâu đã qua sử dụng liên quan đến việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim, hiện không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen xám đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim, hiện không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đồng đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim, hiện không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đen đã qua sử dụng, bị vỡ nứt mặt sau máy,bên trong có lắp 01 sim, hiện không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy là P tiện các bị cáo dùng để liên hệ mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Thị Bích T, Cung Thế Hải L và Lê Lan P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ được tính từ ngày 08/8/2024.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ được tính từ ngày 08/8/2024.

+ Xử phạt bị cáo Cung Thế Hải L 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ được tính từ ngày 08/8/2024.

+ Xử phạt bị cáo Lê Lan P 07 (bảy) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt từ được tính từ ngày 10/8/2024.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 07 bao gói sau giám định của phòng PC09 CATP Hà Nội bên trong chứa tang vật là ma tuý còn lại sau giám định, được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên niêm phong; 01 cối xay hình trụ tròn bằng nhựa màu đen, in chữ “RAW”, 01 lọ thuỷ tinh trong suốt hình trụ tròn, đã qua sử dụng; 10 túi ni lông màu trắng trong, kích thước mỗi túi khoảng 6x12cm; 01 hộp giấy bằng bìa cứng màu hồng – tím đã qua sử dụng, kích thước khoảng 05x15x25cm; 01 hộp bằng nhựa hình chữ nhật màu nâu kích thước 20x25x30cm; 01 máy hàn nhiệt màu đỏ - đen đã qua sử dụng; 01 cân tiểu lý màu xanh – đen đã qua sử dụng; 03 hộp giấy cát tông màu nâu đã qua sử dụng.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim, hiện không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen xám đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim, hiện không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đồng đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim, hiện không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đen đã qua sử dụng, bị vỡ nứt mặt sau máy,bên trong có lắp 01 sim, hiện không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T nộp số tiền thu lời bất chính là 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/12/2024).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị Q 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.ZZ

Cỡ chữ