- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh H: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:124/2024/HS - ST Ngày: 28/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Nguyễn Hồng Đức
2. Ông Phạm Thế Ngọc
Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội Đại diện VKSND huyện Thanh Trì - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Anh Nguyễn - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2024/HS-ST ngày 04/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST - HS ngày 17/6/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1979; HKTT + Chỗ ở: Thôn 1, xã Vạn P, huyện Thanh Trì, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị X; có vợ là Hoàng Thị Lan H và 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013); Tiền án, tiền sự: không (Danh chỉ bản số 291 do Công an Thanh Trì lập ngày 23/4/2024); Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại: Ông Trần Văn N - Sinh năm 1938 (đã chết)
Đại diện hợp pháp của người bị hại:
+ Ông Trần Văn Đ – Sinh năm 1959 (con trai ông N)
+ Bà Trần Thị Đ - Sinh năm 1967 (con gái ông N)
+ Ông Trần Quang P – Sinh năm 1974 (con trai ông N)
+ Bà Trần Thị Y – Sinh năm 1969 (con trai ông N)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
+ Bà Trần Thị X – Sinh năm 1971 (con gái ông N)
Địa chỉ: xã Đ, Thanh Trì, Hà Nội
Đại diện theo ủy quyền của bà Đ, ông P, bà Y, bà X là ông Trần Văn Đ (văn bản ủy quyền ngày 20/02/2024) – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 12/01/2024, Nguyễn Mạnh H (có giấy phép lái xe hạng B2 hợp lệ) điều khiển xe ô tô hiệu Nissan Sunny BKS: 30G - 471.xx chở bố để là ông Nguyễn Văn T và anh trai là Nguyễn Văn Q đi từ bệnh viện Tim Hà Nội về nhà tại xã V, Thanh Trì, Hà Nội. H điều khiển xe đi qua đường V thuộc địa phận thôn T, xã N, huyện Thanh Trì, Hà Nội hướng từ T đi N ở làn đường thứ 2 tính từ mép đường ra đến 02 vạch kẻ đường liền màu vàng ngăn cách hai chiều đường, bánh xe ô tô bên trái cách vạch kẻ đường màu vàng khoảng1,5m, tốc độ khoảng 40km/h. Lúc này có ông Trần Văn N (Sn: 1938, trú tại: T, xã N, Thanh Trì, Hà Nội) điều khiển xe đạp theo hướng ngược chiều và sang đường. Khi H điều khiển xe ô tô đến đoạn gần Gara ô tô Trung An, H hướng mắt quan sát gương chiếu hậu giữa xe xem tình hình sức khỏe của ông T sau đó nhìn thẳng phía trước thì phát hiện thấy ông N đang ở gần đầu xe ô tô. H vội đánh lái sang phải và phanh xe để tránh nhưng do khoảng cách quá gần nên xe ô tô đã va chạm với xe đạp của ông N làm ông N ngã ra đường. H dừng xe và đưa ông N đi cấp cứu tại bệnh viện. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, ông N tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:
- Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đường V, dải nhựa bằng phẳng, đường 2 chiều, ở giữa có vạch sơn vàng kép, kẻ liền. Chiều T đi N có 02 làn đường ở giữa có vạch sơn trắng kẻ dời, 02 làn đường rộng lần lượt 3m55 và 3m; chiều N đi T có 02 làn ở giữa có vạch sơn trắng kẻ dời, 02 làn đường rộng lần lượt là 3m80 và 4m10.
- Điểm mốc là mép tường bên phải nhà anh Hoàng Quốc T theo chiều từ ngoài đường vào nhà. Mép đường chuẩn là mép đường trải nhựa bên trái đường V theo chiều T đi N.
- 01 chiếc xe đạp hiệu Gama Stylish đang nằm đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng N, đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước vào mép đường chuẩn là 5m; đuôi xe hướng T, đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau vào mép đường chuẩn là 5m50; đo ngang hướng T cách mốc 1m80.
- Xe ô tô BKS 30G-471.xx đầu xe hướng N, đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước bên trái xe vào mép đường chuẩn là 12m55, đồng thời đo ngang hướng N cách tâm trục bánh sau xe đạp là 10m20; đuôi xe hướng T, đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau bên trái xe vào mép đường chuẩn là 12m55.
- Đám nhựa vỡ Kt(2m25x0m30) đo từ tâm đám vào mép đường chuẩn là 11m35, đồng thời đo ngang hướng N cách tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô BKS 30G-471.xx là 1m86.
Ngày 22/3/2024, Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã tiến hành dựng lại hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông nêu trên, thể hiện: địa điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông ngày 12/01/2024 là đường V, đoạn qua địa phận thôn Tự Khoát, xã N, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Đường trải nhựa bằng phẳng, hai chiều, ở giữa có vạch sơn kép màu vàng nét liền chia hai chiều xe chạy. Hướng đi từ xã T đi xã N có hai làn đường, ở giữa có vạch kẻ đơn màu trắng nét đứt; tính từ trái qua phải theo chiều đi lần lượt hai làn đường rộng 3,55m và 3m. Chiều ngược lại có hai làn đường, ở giữa có vạch kẻ đơn màu trắng nét đứt, tính từ trái qua phải theo chiều đi hai làn đường rộng 3,8m và 4,1m.
Kết quả dựng lại hiện trường thể hiện vị trí Nguyễn Mạnh H có thể quan sát được xe đạp do ông Trần Văn N điều khiển đi sang đường ở khoảng cách khoảng 18,60m.
Xét nghiệm ma túy và nồng độ cồn đối với Nguyễn Mạnh H sau khi xảy ra vụ tai nạn thể hiện: không có nồng độ cồn trong hơi thở và không sử dụng chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 858/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận:
“1. Dấu vết va chạm, cơ chế hình thành dấu vết trên xe ô tô biển số 30G-471.06 và xe đạp. Vị trí va chạm đầu tiên:
a) Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu ghi (dạng sơn) ở mặt ngoài phía trước biển số trước xe ô tô biển số 30G-471.xx có chiều từ trước về sau (ảnh 7 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết biến dạng, trượt xước mất sơn màu ghi ở mặt ngoài thanh kim loại gắn chắn bùn bánh trước bên phải xe đạp (ảnh 8 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm ở xe đạp tại vị trí này có chiều từ phải sang trái.
b) Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài khung tay lái, đầu tay lái, yên xa, bàn đạp bên phải xe đạp (ảnh 10, 11, 12, 13 trong bản ảnh giám định) có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường (khi xe đạp đổ nằm nghiêng phải và trượt trên mặt đường.
c) Các dấu vết còn lại ở xe ô tô biển số 30G-471.xx và xe đạp được ghi nhận trong “biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông” của Công an huyện Thanh Trì hiện tại không thể hiện rõ, không đủ yếu tố giám định so sánh.
d) Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 30G-471.xx và xe đạp.
2. Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển số 30G-471.xx và xe đạp theo
dấu vết phanh khi xảy ra tai nạn.”.
Tại Bản kết luận giám định số 123/78/KLGĐTT-TTPY ngày 01/02/2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Hà Nội kết luận: “Kết luận nguyên nhân chết: do không mổ tử thi nên không Kết luận được nguyên nhân chết”.
Tại Bản kết luận giám định số 29/17 ngày 02/4/2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Hà Nội kết luận: “Căn cứ Sao y bệnh án Ngoại khoa mã YT: 0101324001538 của Bệnh viện đa khoa Nông Nghiệp và Sao y bệnh án ngoại khoa ngày 15/3/2024 của Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức đối với nạn nhân Trần Văn N, sinh năm 1938 tử vong do chấn thương sọ não (xuất huyết dưới nhện, tụ máu dưới màng cứng, ô tổn thương nhu mô não thùy trán kèm theo có gãy xương gò má), bệnh nhân cao tuổi (86 tuổi) không phẫu thuật lấy máu tụ, điều trị nội khoa đáp ứng không tốt, tiến triển xấu, hôn mê Glasgow 5 điểm dẫn tới suy hô hấp, tuần hoãn không hồi phục”.
Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra đã thu giữ được 01 đoạn video ghi lại hình ảnh diễn biến vụ việc. Tại bản Kết luận giám định số 3572 ngày 22/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận “không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định”.
Tại Cơ quan điều tra:
- Nguyễn Mạnh H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
- Cơ quan điều tra đã trao trả cho H 01 chiếc xe ô tô thuộc quyền sở hữu của bị cáo và trao trả gia đình ông N 01 chiếc xe đạp.
- Về dân sự, đại diện gia đình ông N là anh Trần Văn Đ (Sn: 1959- con trai ông N) đã nhận tiền bồi thường 70.000.000 đồng từ H và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Gia đình ông N đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Mạnh H.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 thu giữ của bị cáo cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 121/CT - VKSTT ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
* Bị cáo Nguyễn Mạnh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo xác nhận bị cáo có lỗi thiếu chú ý quan sát các phương tiện di chuyển phía trước nên đã dẫn đến va chạm giao thông làm ông N bị thương và tử vong sau đó. Bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Áp dụng điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Bị cáo từ 15 – 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 30 – 36 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Phần dân sự: không phải xét do các bên đã tự thỏa thuận xong.
- Trả lại bị cáo giấy phép lái xe ô tô.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn giao thông, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án – đủ cơ sở xác định: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 12/01/2024, tại khu vực đường V, thôn Tự K, xã N, huyện Thanh Trì, Hà Nội, Nguyễn Mạnh H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Nissan Sunny BKS: 30G - 471.xx di chuyển theo hướng T đi N không chú ý quan sát - vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với xe đạp do ông Trần Văn N điều khiển đi sang đường, hậu quả ông N bị thương phải đi bệnh viện cấp cứu và tử vong sau đó. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, gia đình bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; Người bị hại có một phần lỗi khi điều khiển xe đạp sang đường ở nơi có vạch đôi kẻ liền màu vàng và sang đường không đảm bảo an toàn, vi phạm khoản 1 Điều 9 và Điều 15 Luật giao thông đường bộ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn là do lỗi hỗn hợp, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự: «Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm» . Xét hành vi phạm tội của bị cáo không liên quan đến nghề nghiệp lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
- Về dân sự: Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại 70.000.000đồng, gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng:
+ Đối với thiệt hại của xe ô tô hiệu Nissan Sunny BKS: 30G-471.xx của Nguyễn Mạnh H và xe đạp của ông Trần Văn N: bị cáo và gia đình ông N từ chối định giá tài sản đối với phần hư hỏng của các phương tiện, không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên Cơ quan Điều tra không giải quyết. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô trên là tài sản hợp pháp của Nguyễn Mạnh H, chiếc xe đạp là tài sản hợp pháp của ông N nên Cơ quan Điều tra đã trao trả các phương tiện trên cho anh H và gia đình ông N. Bị cáo và gia đình ông N không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 25014301xxxx do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 01/8/2014 mang tên Nguyễn Mạnh H cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại được kháng cáo bản án theo Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
2. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo đã được hưởng.
3. Về dân sự: Không xét.
4. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo giấy phép lái xe hạng B2 số 250143010037 do Sở GTVT Phú Thọ cấp ngày 01/8/2014.
5. Về án phí: Căn cứ các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo : Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
- Đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân H. Thanh Trì, TP Hà Nội; - Công an huyện Thanh Trì, TP Hà Nội; - Cơ quan Thi hành án hình sự H.Thanh Trì, Hà Nội; - Chi cục Thi hành án dân sự H. Thanh Trì, Hà Nội; - Bị cáo. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hoài |