- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị Mỹ T - Nguyễn Văn C"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đoàn Mỹ T đối với anh Nguyễn Văn C. Cho chị Đoàn Mỹ T ly hôn với anh Nguyễn Văn C. 2.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29 – 7 – 2024 Về việc ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Phước
2. Bà Võ Tuyết Kha
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 204/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc “ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đoàn Mỹ T, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau. Nơi ở hiện nay: Nhà trọ Thái Minh T1, Tổ C, khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị T, anh C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
h o n h i i n ề ngày 10 tháng 5 năm 2024 và lời hai tại òa án nguyên n chị Đoàn Mỹ T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn C tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2018, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V theo giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 01/2019, ngày 21/02/2019. Trong cuộc sống, vợ chồng chị xảy nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc, không hàn gắn được. Chị và anh C đã ly thân từ tháng 5 năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân, chị và anh C có liên lạc nhưng không thể hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Chị và anh C có hai người con chung tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 22/12/2018 và Nguyễn Ngọc T2 sinh ngày 11/5/2022. Hiện hai cháu K và T2 đang sống với chị từ khi ly thân đến nay. Nay chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, giáo dục hai cháu Nguyễn Đăng K và cháu Nguyễn Ngọc T2, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị n anh Nguyễn Văn C ã ược Tòa án tri u tập hợp l nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án hông lấy ược lời khai.
Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n P phát biểu ý iến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giải quyết cho chị Đoàn Mỹ T ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 22/12/2018 và cháu Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 11/5/2022 cho chị Đ Mỹ Tho tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí, chị T phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị Đoàn Mỹ T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Khi khởi kiện, anh C trú tại ấp H, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện P thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị T và anh C là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị T và anh C xây dựng hôn nhân năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V theo giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 01/2019, ngày 21/02/2019 nên hôn nhân giữa chị T và anh C là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo chị T xác định trong quá trình chung sống chị và anh C xảy nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên chị và anh C đã ly thân từ tháng 5 năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị T và anh C có liên lạc nhưng không thể hàn gắn quan hệ vợ chồng. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, như vậy anh C đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân này. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa chị T và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh C.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị T và anh C có hai người con chung tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 22/12/2018 và Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 11/5/2022. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Nguyễn Đăng K và Nguyễn Ngọc T2, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Anh C đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu nuôi con chung của chị T nhưng anh C không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của chị T. Xét thấy, từ khi ly thân, chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Đăng K và Nguyễn Ngọc T2 và chăm sóc tốt cho hai cháu, tạo điều kiện cho hai cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống ổn định và bảo đảm quyền lợi mọi mặt của hai cháu Nguyễn Đăng K và Nguyễn Ngọc T2, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của chị T: Giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 22/12/2018 và cháu Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 11/5/2022 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh Nguyễn Văn C không phải chịu án phí.
Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đoàn Mỹ T đối với anh Nguyễn Văn C. Cho chị Đoàn Mỹ T ly hôn với anh Nguyễn Văn C. 2. Về con chung:
2.1. Giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 22/12/2018 và cháu Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 11/5/2022 cho chị Đ Mỹ Tho tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện hai cháu Nguyễn Đăng K và cháu Nguyễn Ngọc T2 đang sống với chị Đoàn Mỹ T. Anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị Đoàn Mỹ T phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Đoàn Mỹ T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006896 ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P được chuyển thu án phí. Anh Nguyễn Văn C không phải chịu án phí.
5. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện P; - Chi Cục THADS huyện P; - UBND xã V; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | Nguyễn Hồng Đào |