vanban.org

Bản án 124/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Hồng Th.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng Th được ly hôn anh Huỳnh Quốc C. 2/ Về con chung: Do cháu Trần Thị Hồng Ng, sinh ngày 03/03/1998 và cháu Trần Thị Nh, sinh ngày 05/01/2006 đã trưởng thành, chị Th không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Trần Thị Hồng Th và bị đơn anh Huỳnh Quốc C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Hồng Th.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 30/12/2024
“V/v tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Bé Nhi

- Các Hội thẩm nhân dân 1/ Ông Lại Thiện Phong

2/ Ông Nguyễn Thành Đến

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 236/2024/TLST– HNGĐ, ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST–HNGĐ, ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng Th, sinh năm 1979

Địa chỉ: ấp NT, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Quốc C, sinh năm 1978

Địa chỉ: ấp NT, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị Trần Thị Hồng Th vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Huỳnh Quốc C vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/07/2024 và tại biên bản lấy lời khai ngày 03/10/2024 nguyên đơn chị Trần Thị Hồng Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh C có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NQ, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 10/12/2021. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Trước đây, chị Th đã từng nộp đơn ly hôn với anh C nhưng sau đó chị Th rút đơn về để cho chồng cơ hội hàn gắn nhưng hai bên không thể hàn gắn được với nhau. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Quốc C.

Về quan hệ con chung: Chị Th xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh C có 02 người con chung là cháu Trần Thị Hồng Ng, sinh ngày 03/03/1998 và cháu Trần Thị Nh, sinh ngày 05/01/2006. Hiện tại cháu Ng và cháu Nh đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn anh Huỳnh Quốc C: Tòa án có tiến hành giao thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với anh Huỳnh Quốc C nhưng anh Huỳnh Quốc C không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với anh Huỳnh Quốc C. Bên cạnh đó, Tòa án có tiến hành niêm yết các thủ tục theo qui định pháp luật do anh Huỳnh Quốc C không có mặt ở địa phương. Chính quyền địa phương cũng xác định, anh Huỳnh Quốc C vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp NT, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu anh Huỳnh Quốc C có về địa phương một lần.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng Th được ly hôn anh Huỳnh Quốc C;

2. Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị Hồng Th không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết;

3. Về quan hệ tài sản: Chị Trần Thị Hồng Th không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Chị Trần Thị Hồng Th khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Quốc C nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn” là đúng quy định.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Huỳnh Quốc C có nơi đăng ký thường trú tại ấp NT, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Nguyên đơn chị Trần Thị Hồng Th tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị Th. Bị đơn anh Huỳnh Quốc C vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Huỳnh Quốc C.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh C có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NQ, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 10/12/2021 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh C là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống đến nay, chị Th xác định giữa chị và anh C có phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị Th không thể hàn gắn với anh C được nữa. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Nay chị Th nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Quốc C. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa chị Th và anh C có phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng lúc sống chung thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Trần Thị Hồng Th được ly hôn anh Huỳnh Quốc C.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị Th xác định giữa chị và anh C có 02 người con chung là cháu Trần Thị Hồng Ng, sinh ngày 03/03/1998 và cháu Trần Thị Nh, sinh ngày 05/01/2006. Hiện tại cháu Ng và cháu Nh đã trưởng thành nên chị Th không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về quan hệ tài sản: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Hồng Th.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng Th được ly hôn anh Huỳnh Quốc C.

2/ Về con chung: Do cháu Trần Thị Hồng Ng, sinh ngày 03/03/1998 và cháu Trần Thị Nh, sinh ngày 05/01/2006 đã trưởng thành, chị Th không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3/ Về tài sản chung: Chị Trần Thị Hồng Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Hồng Th phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị Th đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0007870, ngày 03/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ