- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim H.
- Căn cứ chính? Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 124/2024/HN-ST Ngày: 12/4/2024 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Lê Văn Minh
+ Bà Trương Thị Út Mỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 448/2023/TLST-HN ngày 27/11/2023 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số /2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim H, sinh năm xxxx (xin vắng mặt),
Địa chỉ: ấp x, xã T, huyện G, tỉnh T.
* Bị đơn: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp x, xã T, huyện G, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày: chị và anh T cưới nhau vào năm 2019 do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Tây. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Chị và anh T không còn chung sống với nhau từ tháng 10/2023 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nữa nên chị xin được ly hôn với anh T.
Con chung có 01 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày xx/xx/xxxx, hiện đang sống với chị. Ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Thanh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Chị H yêu cầu ly hôn với anh T và yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày xx/xx/xxxx, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ và ý kiến của các đương sự:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H xin ly hôn với anh T nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là “xin ly hôn”. Bị đơn anh Nguyễn Thanh T trú tại địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Thanh T đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh T theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị H xin ly hôn với anh T do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Chị H và anh T không còn chung sống với nhau từ tháng 10/2023 đến nay, trong thời gian này chị H và anh T đều không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm với nhau. Anh T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh T vẫn không đến để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị H, chứng tỏ anh T không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ chấp nhận.
- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày xx/xx/xxxx. Hiện con đang sống với chị H khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu P hiện dưới 36 tháng tuổi và đang sống ổn định với chị H, anh T cũng không có ý kiến gì về việc yêu cầu được nuôi con của chị H nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu P cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
Về án phí: do chị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 điều 277, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim H.
[1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
[2] Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị Nguyễn Thị Kim H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi lao động được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị H và anh T có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con hoặc có sự thay đổi khác.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0013036 ngày 20/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông nên chị H đã nộp xong án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Gò Công Đông; - Chi cục THADS huyện Gò Công Đông; - UBND xã Tân Tây; - Ñöông söï; - Löu hoà sô, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nguyên |