- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2023/HS-ST. Ngày 13-11-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa và bà Nguyễn Thị Chương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 123/2023/TLST-HS ngày 23/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2023/QĐXXST-HS ngày 31/10/2023 đối với bị cáo:
Trần Văn H, sinh năm 1994 tại Nam Định; nơi ĐKTT, chỗ ở: Thôn L, xã Y, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Trần Thị T (đã chết) và không xác định được bố đẻ; có vợ là Trần Thị X, sinh năm 1997 và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án: Ngày 20/05/2021, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/04/2022; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 01/8/2023, tạm giam từ ngày 07/8/2023 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Trần Đình T, sinh năm 1996; vắng mặt.
2. Anh Hà Ngọc H, sinh năm 1994; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 31/7/2023, Trần Văn H đi bộ từ nhà đến khu vực đầu xã Yên Minh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, H đã gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi giới thiệu tên Tuấn (H không biết rõ tên tuổi, địa chỉ), trong lúc nói chuyện, H hỏi Tuấn: “Anh có kẹo ke không, để cho em một ít?”, Tuấn hỏi lại: “Lấy bao nhiêu?”, H trả lời: “Để cho em mười viên kẹo với nửa chỉ ke”, Tuấn nói: “Đưa đây ba triệu”. H lấy số tiền 3.000.000đồng đưa cho Tuấn, Tuấn cầm tiền rồi đưa lại cho H một túi nilon màu đen có kẹp nhựa, bên trong có 10 viên nén hình chữ nhật màu nâu và 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Biết túi nilon Tuấn đưa cho là ma túy, H cầm lấy cất vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi đến nhà Hà Ngọc H1 rủ H đi lên thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam chơi. Sau đó H và H1 đi xe taxi đến quán bia Ngọc Nhi thuộc tổ dân phố Hòa Lạc, phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý rồi vào quán ngồi uống bia thì bị Công an phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý kiểm tra hành chính. H đã tự giác lấy giao nộp cho lực lượng Công an 01 túi nilon màu đen bên trong có chứa 10 viên nén hình chữ nhật màu nâu và 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, H khai nhận đó là túi ma túy, cất giấu mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý đã đưa H về trụ sở để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng với toàn bộ vật chứng theo quy định.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 túi nilon màu đen bên trong có 10 viên nén hình chữ nhật màu nâu và 01 túi nilon màu trắng có chứa bên trong chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Tại bản Kết luận giám định số 503/KL-KTHS ngày 04/8/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam đã kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 4,047gam, loại MDMA; mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,724gam, loại Ketamine”.
Bản Cáo trạng số 131/CT-VKS-PL ngày 22/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Trần Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Trần Văn H, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự:
- Hình phạt chính: Xử phạt Trần Văn H từ 36 tháng đến 42 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng, lý lịch tư pháp của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 31/7/2023, tại khu vực tổ dân phố Hòa Lạc, phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, Trần Văn H bị lực lượng Công an phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 4,047gam chất ma túy loại MDMA và 0,724gam chất ma túy loại Ketamine, mục đích để sử dụng. Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi tàng trữ trái phép các chất ma túy của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhân thân xấu do đã bị kết án phạt tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và chưa được xóa án tích.
4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 53 của Bộ Luật Hình sự.
4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; bản thân có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
5.1. Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo là người đã bị kết án về tội phạm ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, tu dưỡng bản thân và biết ăn năn hối cải mà vẫn tiếp tục vi phạm do cố ý, thể hiện bản chất coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
5.2. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người mới chấp hành xong hình phạt tù, không có nghề nghiệp, thu nhập, tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với bị cáo.
Về các tình tiết khác của vụ án:
6.1. Đối với người thanh niên tên Tuấn theo bị cáo khai là người đã bán chất ma túy cho bị cáo để cất giấu, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an xã Yên Minh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tiến hành xác minh làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ và xử lý theo quy định là có căn cứ.
6.2. Đối với anh Hà Ngọc H1 là người đi cùng bị cáo Trần Văn H tối 31/7/2023, quá trình điều tra đã xác định mục đích đi cùng bị cáo đến thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam là để uống bia, anh H1 không biết về việc bị cáo cất giấu ma túy trong người để sử dụng, do đó Cơ quan điều tra đã không xem xét, xử lý đối với anh H1 là có cơ sở.
Về xử lý vật chứng đã thu giữ: Đối với toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật Nhà nước quy định cấm tàng trữ, lưu hành nên sẽ tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 53, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01/8/2023.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01”, số 503/KTHS, mặt sau phong bì có chữ ký, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam. Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 24/10/2023.
3. Án phí: Bị cáo Trần Văn H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Phủ Lý; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; - Bị cáo Trần Văn H; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Sơn |