vanban.org

Bản án 124/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 18/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Hàng Minh P, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Bị cáo Hàng Minh P mức án 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/03/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BC Hàng Minh P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ G
TỈNH KIÊN GIANG
-----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2023/HS-ST
Ngày: 18 - 07 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Cao Trọng Mãnh

2/ Ông Nguyễn Quốc Tiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 139/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 06 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 06 năm 2023, đối với bị cáo:

Hàng Minh P (Tên gọi khác: Mol Nhỏ), sinh ngày 11/10/1998. Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: Ấp N A, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Không ổn định; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hàng Minh T và bà Nguyễn Thị Ngọc T1; Anh ruột 01 người, sinh năm 1994; Vợ, con: Không có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 18/03/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người chứng kiến:

1/ Anh Nguyễn Huỳnh Trọng N, sinh năm 1996 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Lô 3 căn 5 Hẻm 90 đường K, phường Q, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

2/ Anh Nguyễn Minh Q, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 112 đường Đ, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bản thân Hàng Minh P sử dụng ma túy từ đầu năm 2021 (loại ma túy đá). Trong thời gian nghiện ma túy bị cáo mua ma túy để sử dụng của người thanh niên tên Phú Heo (Không rõ họ tên, địa chỉ). Đến 17/03/2023, P gặp Phú Heo tại quán nước trên đường Tôn Đức Thắng, phường Vĩnh Bảo và Phú Heo cho P 02 bịch ma tuý để sử dụng và dặn khi nào có nhu cầu mua ma tuý thì mua của Phú Heo. Đến trưa ngày 18/03/2023, Phúc để ma tuý vào túi quần và ba lô chuẩn bị lên tàu về thăm nhà ở huyện Kiên Hải. Đến 12 giờ 20 phút cùng ngày tại khu vực cầu cảng số 02, Cảng thuỷ nội địa Rạch Giá thuộc khu phố Nguyễn Công Trứ, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá thì bị lực lượng Biên phòng phát hiện bắt quả tang và thu giữ trong túi quần (phía sau bên phải) Phúc đang mặc 01 bịch ny lon màu trắng được hàn kín 02 đầu, bên trong có nhiều tinh thể rắn, không đồng nhất; trong ba lô của Phúc 01 vỏ thuốc lá nhãn hiệu Jet, bên trong bao thuốc lá chứa 01 bịch ny lon màu trắng có rãnh gài viền màu xanh bên trong chứa nhiều hạt tinh tể dạng rắn màu trắng, không đồng nhất. Ngày 24/03/2023, P bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố G khởi tố và tạm giam đến nay.

Bị cáo Hàng Minh P đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Hàng Minh P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

* Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) bịch ny lon màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, kích thước 3,5cm x 02cm;

- 01 (một) bịch ny lon màu trắng có rãnh gài viền màu xanh, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể dạng rắn màu trắng không đồng nhất, kích thước 05cm x 04cm. Tất cả được niêm phong theo quy định.

- 01 (một) điện thoại di động màu đen, số Imei: 35301909189425, số seri: GHKXF2NWICKL, (bút luc só: 01 đến 04).

* Tại bản kết luận giám định số 289/KL-KTHS ngày 21 tháng 03 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang xác định:

- Các hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch ny lon màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 3,5cm x 02cm được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4266 gam.

- Các hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch ny lon màu trắng có rãnh gài viền màu xanh, kích thước khoảng 05cm x 04cm được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,3330 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 28/5/2022 của chính phủ, (bút lục số 11).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang nêu trên.

* Theo bản cáo trạng số: 159/CT.VKSRG ngày 21/06/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Hàng Minh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G và bản cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hàng Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hàng Minh P mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 289/2023, có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Võ Thanh Nhã và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Jet. Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 53 ngày 24/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố G.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Hàng Minh P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào lúc 12 giờ 20 phút ngày 18/03/2023 tại khu vực cầu cảng số 2, Cảng thuỷ nội địa Rạch Giá thuộc khu phố Nguyễn Công Trứ, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá Hàng Minh P bị Lực lượng phòng chống ma tuý và phòng chống tội phạm Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang phối hợp với Đồn Biên phòng Lình Huỳnh và Công an phường T, thành phố G bắt quả tang Hàng Minh P cất giấu trong ba lô và túi quần 02 bịch ma tuý. (Qua giám định là chất ma túy, loại Methamphetamin có tổng khối lượng là 1,7596 gam). Mục đích bị cáo cất giấu ma tuý là để sử dụng không nhằm mục đích khác.

Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Hàng Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét về tính chất mức độ phạm tội của bị cáo xảy ra rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do xuất phát từ việc nghiện ma túy và muốn có ma túy sử dụng mà bị cáo đã bất chấp lao vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sự ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và là điều kiện để làm phát sinh tội phạm khác. Qua xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo mức án tương xứng bằng hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 289/2023, có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Võ Thanh Nhã và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Jet. Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 53 ngày 24/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố G.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Rạch Giá đã trả cho bị cáo Hàng Minh P 01 (một) điện thoại di động màu đen, số Imei: 35301909189425, số seri: GHKXF2NWICKL. Xét thấy việc trả tài sản cho bị cáo P của Cơ quan cảnh trả điều tra không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và không ai khiếu nai gì nên không xem xét.

Xét đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G đề nghị tại bản luận tội đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với người thanh niên tên Phú Heo hiện chưa xác định được tên thật, địa chỉ nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G, tỉnh Kiên Giang tiếp tục điều tra, làm rõ khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Hàng Minh P, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Hàng Minh P mức án 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/03/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 289/2023, có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Võ Thanh Nhã và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Jet.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 117/QĐ-VKS ngày 21/06/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 18/07/2023). * Nơi nhận:

Cỡ chữ