vanban.org

Bản án 124/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 31/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 28/7/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2023/HS-ST
Ngày: 31/10/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoan

Ông Nguyễn Văn Tiện

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Nhật - Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam.

Sinh năm: 2004; Nơi sinh: huyện T, tỉnh Điện Biên.

Nơi đăng ký HKTT: bản Ta Lếch, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ Mú; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông: Lò Văn S (đã chết).

Con bà: Lò Thị V; sinh năm 1976; Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Anh chị em ruột: có 4 người, bị cáo là thứ 2.

Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/7/2023 đến ngày 31/7/2023 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

Ông Đinh Xuân D; Sinh năm: 1958

Trú tại: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên

Tại phiên tòa: Ông D vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ ngày 28/7/2023, Công an xã P, huyện V tiến hành tuần tra tại đường vào khu V, khu đô thị E, thuộc địa phận thôn K, xã P, huyện V, phát hiện 2 nam thanh niên chở nhau trên xe mô tô nhãn hiệu Dream (không xác định được biển số) có biểu hiện nghi nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Thấy vậy, đối tượng ngồi phía sau xe môtô là Lò Văn T đã xuống xe và ném 02 gói giấy bạc xuống mặt đường. Lực lượng Công an xã P đã bắt giữ được T, còn đối tượng chở T đã điều khiển xe mô tô chạy thoát. 02 gói giấy bạc Thao ném xuống mặt đường gồm: 01 gói có kích thước (1,4 x 0,9)cm, 01 gói có kích thước (1,5 x 0,8)cm, bên trong 02 gói đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột nghi là ma túy. Công an xã P đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và niêm phong 02 gói giấy bạc trên trong phong bì hiệu là M1. Cùng ngày, Công an xã P đã bàn giao Lò Văn T cùng hồ sơ vụ việc và vật chứng đã thu giữ cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra theo thẩm quyền.

Ngay sau khi tiếp nhận vụ việc, Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của T ở thôn K, xã P, huyện V; đưa T đến Trung tâm y tế huyện V để xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể và trưng cầu giám định ma túy đối với chất thu giữ được của T trong phong bì kí hiệu M1. Kết quả khám xét không thu giữa được đồ vật, tài liệu gì có liên quan. Kết quả xét nghiệm xác định T dương tính với chất ma túy (MOP). Tại Bản kết luận giám định số 434/KL-KTHS (MT) ngày 31/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, kết luận: mẫu chất màu trắng dạng cục, bột trong niêm phong kí hiệu M1 có khối lượng 0,189g, là ma túy loại Heroine.

Quá trình điều tra Lò Văn T khai nhận: Bản thân thường xuyên sử dụng chất ma túy. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/7/2023, khi T đang ở trong khu C, thì có người nam giới tên K (không rõ lý lịch) cũng là người sử dụng ma túy điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream (không rõ biển số xe) đến rủ T đi mua ma túy để cùng sử dụng, T đồng ý. K điều khiển xe mô tô chở T đến địa phận thành phố Hà Nội (không xác định được địa chỉ cụ thể), mua 250.000đ ma túy loại Heroine của một người nam giới không rõ nhân thân lai lịch. Người bán ma túy đưa cho K 02 gói ma túy, loại Heroine. Sau khi nhận 02 gói ma túy, K đưa cho T cầm rồi điều khiển xe mô tô đi về khu V, khu đô thị E để tìm chỗ sử dụng, thì bị Công an xã P kiểm tra, bắt quả tang đối với T, còn K điều khiển xe mô tô chạy thoát.

Tại bản Cáo trạng số 122/CT-VKSVG ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay:

Bị cáo Lò Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Sau khi phân tích đánh giá các chứng cứ chứng minh tội phạm, phân tích tính nguy hiểm của tội phạm do bị cáo gây ra, hậu quả của hành vi đối với xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 28/7/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 46; điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 Phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của phòng kỹ thuật hình sự, bên trong có 0,167g ma túy loại Heroine.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng:

Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.

- Những người làm chứng vắng mặt không có lý do, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng. Xét thấy người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo phiên tòa hôm nay phù hợp khách quan với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, những lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 13 giờ ngày 28/7/2023 tại khu V, khu đô thị E thuộc địa phận thôn K, xã P, huyện V, Công an xã P, huyện V bắt quả tang Lò Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép trên người 02 gói ma túy loại Heroine, có tổng khối lượng 0,189g. Mục đích T cất giấu số ma túy trên để sử dụng.

Bị cáo Lò Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ 0,189g ma túy loại Heroine của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo Lò Văn T theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho T và đối tượng cùng T đi mua ma túy về sử dụng, do chưa xác định được nhân thân, địa chỉ nên kiến nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý. Nghiêm trọng hơn, hành vi của bị cáo còn là một trong những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh và lây lan căn bệnh HIV/AIDS, là nguyên nhân huỷ hoại sức khoẻ, trí lực của con người, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu tới công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương. Vì vậy cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một hình phạt nghiêm minh, mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên toà hôm nay không chỉ nhằm mục đích trừng trị, giáo dục giúp bị cáo sớm cai nghiện, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà còn nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật trong quần chúng nhân dân, từ đó có thái độ tôn trọng pháp luật và phối hợp cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật đấu tranh, phòng chống và loại trừ loại tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội. Việc quyết định hình phạt đối với bị cáo còn là lời cảnh báo, răn đe đối với những người có ý định thực hiện tội phạm về ma tuý nói riêng và các loại tội phạm khác nói chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, HĐXX sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

. Để đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm, căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma túy, biết rõ việc tàng trữ trái phép ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng không chịu cai nghiện để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, cộng đồng mà coi thường pháp luật cố tình phạm tội nên cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một hình phạt tương xứng đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa tội phạm chung cho mọi người.

. Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng h́ình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 01 Phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, bên trong có 0,167 gam Heroine là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

. Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, do đó căn cứ quy định tại điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí, điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 điều 46; điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106; điều 135; điều 136; khoản 1 điều 293; điều 331; điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 28/7/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định của phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh H, bên trong có 0,167g ma túy loại Heroine;

(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2023 giữa Công an huyện V với Chi cục thi hành án dân sự huyện V)

3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể tuyên án.

Cỡ chữ