vanban.org

Bản án 124/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An Tuyên án 19/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mai Tấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Mai Tấn K 02 (hai) năm tù, thời gian tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16-5-2023. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Tấn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Tấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2023/HS-ST
Ngày: 19-9-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Đổi;

Bà Võ Thị Kiều Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Mai Tấn K, tên gọi khác: không có, sinh ngày 14/10/1999 tại Long An. Nơi thường trú: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nơi ở: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Thanh N, sinh năm 1978 (chết) và bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1973 (sống); bản thân chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Dương Văn L1, sinh năm 1980.

Nơi cư trú: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).

2. Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1964

Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).

- Người chứng kiến:

1. Nguyễn Văn D, sinh năm 1977 (vắng mặt).

2. Nguyễn Thanh N1, sinh năm 2000 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/5/2023, Mai Tấn K mượn xe mô tô biển số 62F6-3730 của Dương Văn L1 đi từ nhà tại ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đến khu vực gần chợ chiều thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An gặp 01 nam thanh niên tên C không rõ nhân thân, lai lịch hỏi mua 200.000 đồng chất ma túy, mục đích để sử dụng, Chuột bán cho K 01 gói nylon hàn kín chứa chất ma túy tổng hợp (dạng đá). Sau đó, K cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô biển số 62F6-3730 đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi K điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường thuộc ấp B, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An phối hợp với Công an huyện Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang, tạm giữ người và vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 490/KL-KTHS ngày 22/5/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: “Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1147 gam, loại: Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 136/CT-VKSĐH ngày 28-8-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố Mai Tấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Tấn K hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố bị cáo Mai Tấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội đúng pháp luật, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Mai Tấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Mai Tấn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với hành vi của Dương Văn L1 cho bị cáo Mai Tấn K mượn xe mô tô biển số 62F6-3730 nhưng ông L1 không biết việc K sử dụng xe mô tô để đi mua chất ma túy nên không cấu thành tội phạm có liên quan.

Đối với người nam thanh niên tên C bán chất ma túy cho bị cáo Mai Tấn K, do không xác định nhân thân lai lịch chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo K nên không có căn cứ xử lý.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- 01 xe mô tô biển số 62F6-3730, loại Dream, hiệu Loncin, số khung: WE110C001040878, số máy: LC150FMG01618412 thuộc sở hữu của ông Dương Văn L1, bị cáo mượn và sử dụng xe để đi mua ma túy ông L1 không biết nên đề nghị giao trả lại xe cho ông L1.

- Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,0326 gam được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 490 đề nghị tịch thu tiêu hủy.

(Vật chứng trên hiện chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang quản lý, tạm giữ).

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim T vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, bản kết luận giám định chất ma túy và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận khoảng 11 giờ 40 ngày 16/5/2023, tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Mai Tấn K có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1147 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Đ, huyện Đ phối hợp với Công an huyện Đ, tỉnh Long An kiểm tra phát hiện. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mai Tấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

Hành vi trái pháp luật của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất của con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã mua ma túy và cất giấu trái phép, mục đích để sử dụng, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm đến sức khoẻ và sự phát triển nòi giống của dân tộc, là tác nhân gây ra bệnh HIV. Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, cần xem xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi của Dương Văn L1 cho bị cáo Mai Tấn K mượn xe mô tô biển số 62F6-3730 nhưng ông L1 không biết việc K sử dụng xe mô tô để đi mua chất ma túy nên không cấu thành tội phạm có liên quan.

Đối với người nam thanh niên tên C bán chất ma túy cho bị cáo Mai Tấn K, do không xác định nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo K nên không có căn cứ xử lý.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- 01 xe mô tô biển số 62F6-3730, loại Dream, hiệu Loncin, số khung: WE110C001040878, số máy: LC150FMG01618412 thuộc sỡ hữu của ông Dương Văn L1, bị cáo mượn và sử dụng xe đi mua ma túy ông L1 không biết nên giao trả lại xe cho ông Dương Văn L1.

- Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,0326 gam được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 490 nên tịch thu tiêu hủy.

(Vật chứng trên hiện chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang quản lý, tạm giữ).

Về án phí: Bị cáo Mai Tấn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Mai Tấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Mai Tấn K 02 (hai) năm tù, thời gian tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16-5-2023.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Mai Tấn K trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (19-9-2023) để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Giao trả lại cho ông Dương Văn L1 01 xe mô tô biển số 62F6-3730, loại Dream, hiệu Loncin, số khung: WE110C001040878, số máy: LC150FMG01618412.

- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,0326 gam được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 490.

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 145-30/08/2023 ngày 30/8/2023).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Mai Tấn K phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ