vanban.org

Bản án 124/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 17/04/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh C;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 10/01/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh C tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam, ngày 06/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh C;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2023/HS-PT
Ngày: 17-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Tự

Các Thẩm phán:

Ông Trương Minh Tuấn

Ông Đinh Phước Hoà

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Minh Lộc - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2023/TLPT-HS ngày 14 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Trần Mạnh C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Mạnh C, tên gọi khác: không; sinh ngày 22 tháng 11 năm 1987 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quang P (đã chết) và bà Trần Thị Minh T, sinh năm 1964; anh, chị em ruột có 02 người, C là con út trong gia đình; vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2022; bị cáo có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo:

- Ông Trần Thường P, Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư C, Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình, bào chữa theo yêu cầu của bị cáo, có mặt.

- Ông Trương Thanh T, Luật sư cộng tác viên của Trung tâm tư vấn pháp luật Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình, bào chữa theo chỉ định của cơ quan tiến hành tố tụng, có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 19 giờ 20 phút ngày 08/9/2022, tại khu vực đường B thuộc thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Minh T đang có hành vi tàng trữ 420 viên nén màu hồng và 03 viên nén màu xanh. T khai nhận số viên nén trên là ma túy hồng phiến, T đang đưa đi bán cho Nguyễn Xuân L thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Nguyễn Minh T tại phòng 01 nhà trọ ông Lê Mạnh L thuộc thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Kết quả T đã tự nguyện giao nộp: 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa 01 viên nén màu tím không rõ hình, 02 túi nilon trong suốt bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, 12 viên nén hình tròn màu hồng. T khai nhận các viên nén và chất tinh thể trên là ma túy dạng thuốc lắc, ketamine, hồng phiến, T mua của Trần Mạnh C rồi đưa về cất giấu vừa để sử dụng cho bản thân vừa bán kiếm lời.

Quá trình điều tra, các bị cáo T khai nhận: Ngày 06/9/2022, T sử dụng điện thoại số 0908.228.585 điện thoại cho Trần Mạnh C qua số điện thoại 0856.099.222 hỏi mua 500 viên ma túy hồng phiến với giá 14 triệu đồng và hẹn đến khu vực Phòng Cảnh sát chữa cháy thuộc đường H để giao ma túy, C đồng ý. Sau đó C giao cho T 03 gói nilon bên trong chứa khoảng 500 viên ma túy hồng phiến, T giao cho C 14 triệu đồng. Mua được ma túy, T đem về phòng trọ cất giấu. Đến khoảng 19 giờ 20 phút ngày 08/9/2022, Nguyễn Xuân L gọi điện cho T hỏi mua ma túy hồng phiến nhưng chưa thống nhất số lượng và giá cả, T đồng ý. T lấy 03 túi nilon chứa tổng cộng 420 viên ma túy hồng phiến cất giấu vào túi quần và đi để bán cho Nguyễn Xuân L thì bị phát hiện bắt quả tang.

Ngoài ra, ngày 05/8/2022, T có mua của Trần Mạnh C 02 túi nilon màu trắng đựng ma túy loại Ketamine và 01 viên thuốc lắc giá 1.800.000 đồng đưa về cất giấu tại phòng trọ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và kiếm lời thì bị phát hiện thu giữ.

Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Trần Mạnh C: C đã tự nguyện giao nộp tổng cộng 5.472 viên nén màu hồng và 46 viên nén màu xanh, C khai nhận là ma túy hồng phiến, C cất giấu để bán cho người khác.

Bị cáo Trần Mạnh C khai nhận: khoảng đầu tháng 9 năm 2022, C mua của một nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ, khoảng 6.000 viên ma túy hồng phiến với giá 60 triệu đồng tại khu vực giáp ranh giữa tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị. Sau khi mua được số ma túy, C mang về nhà cất giấu vừa sử dụng vừa bán cho người khác. Ngày 06/9/2022, C bán cho Nguyễn Minh T 50 viên ma túy hồng phiến với giá 1.500.000 đồng. Đến ngày 06/10/2022 Cơ quan điều tra tiến hành khám xét và thu giữ 5.518 viên ma túy còn lại. Ngoài ra, C khai nhận đã bán cho Nguyễn Minh T khoảng 3 đến 4 lần khác loại ma túy hồng phiến nhưng không rõ số lượng, giá tiền cụ thể. C không bán ma túy loại MDMA và Ketamine cho T như T đã khai báo.

Tại Bản kết luận giám định số 1053 ngày 16/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 420 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ lúc bắt quả tang T là loại Methamphetamine, khối lượng 38,759g; 12 viên nén hình tròn màu hồng thu lúc khám xét chỗ ở của T là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,203g; 01 viên nén màu tím không rõ hình dạng thu lúc khám xét chỗ ở của T là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,394g; chất tinh thể rắn màu trắng chứa trong 02 túi nilon trong suốt thu lúc khám xét chỗ ở của T là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,9369g; 03 viên nén màu xanh thu giữ lúc bắt quả tang T không phải là ma túy. Methamphetamine, MDMA, Ketamine nằm trong danh mục các chất ma tuý theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ (trong đó: Methamphetamine số thứ tự 247, Danh mục IIC; MDMA số thứ tự 11, Danh mục IB; Ketamine số thứ tự 40, Danh mục III).

Tại Bản kết luận giám định số 1162 ngày 23/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 5.472 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của C là loại Methamphetamine, khối lượng 568,64g; 46 viên nén hình tròn màu xanh thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của C không phải là ma túy, khối lượng 4,141g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma tuý theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ, số thứ tự 247, Danh mục IIC.

Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

1) 03 (ba) túi nilon, bên trong chứa tổng cộng 420 viên nén hình tròn, màu hồng và 03 viên nén hình tròn, màu xanh;

2) 01 (một) túi nilon bên trong chứa 01 viên nén màu tím không rõ hình dạng;

3) 02 (hai) túi nilon bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng;

4) 12 (mười hai) viên nén hình tròn, màu hồng;

5) 03 (ba) hộp giấy Lactosoy bên trong có 22 túi nilon màu xanh chứa tổng cộng 5.472 viên nén hình tròn màu hồng và 46 viên nén hình tròn màu xanh;

6) 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, số IMEI: 354411085126551, máy đã qua sử dụng;

7) 01 (một) điện thoại di động có in chữ Vertu màu đen vàng, số IMEI: 355715152020205, gắn sim số 0799.134.084, máy đã qua sử dụng;

8) 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung ZFlip3, màu đen, số IMEI 1: 355001763944419/01, gắn sim số 0877.597.999, máy đã qua sử dụng;

9) 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung ZF01p3, màu đen bạc, số IMEI 1: 353249142600952/01, gắn hai sim số 0856.099.222 và 0931.371.391, máy đã qua sử dụng;

10) 01 (một) máy tính bảng Ipad2 màu đen bạc, số Sêri: DR5L307FDFJ 1, máy đã qua sử dụng;

11) 50.000.000 đồng (năm mươi triệu) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

12) 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đen, BKS: 73F1-497.93;

13) 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIA Cerato màu đỏ, BKS: 73A-196.12;

14) 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu xanh, số IMEI: 359903744943723, máy đã qua sử dụng.

Số vật chứng tại các mục từ 12 đến 14 đã trả lại cho chủ sở hữu. Số vật chứng còn lại đang tạm giữ tại Cục Thi hành án hình sự tỉnh Quảng Bình.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 10/01/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Mạnh C tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam, ngày 06/10/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Minh T, phần xử lý vật chứng, về án phí và thông báo về quyền kháng cáo.

Kháng cáo:

Ngày 11/01/2023, bị cáo Trần Mạnh C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Lý do kháng cáo: hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ già yếu, cha có công cách mạng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng:

Bị cáo có hành vi tàng trữ ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 568,64g để bán cho người khác. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, cha bị cáo có công cách mạng, bị cáo đang bị bệnh viêm màng não nên hình phạt chung thân đối với bị cáo là quá nghiêm khắc; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, xét giảm cho bị cáo xuống hình phạt tù có thời hạn là 20 năm.

Ông Trương Thanh Tặng, Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày:

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: nhân thân tốt, bố bị cáo có công cách mạng, bị cáo đang bị bệnh não, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Ngoài ra, bị cáo có hành vi tự giác giao nộp tang vật phạm pháp nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, sửa bản án sơ thẩm, giảm xuống hình phạt tù 20 năm.

Ông Trần Thường Phi, Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất với các nội dung trình bày của Luật sư Trương Thanh Tặng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng đầu tháng 9 năm 2022, C mua của một nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ khoảng 6.000 viên ma túy hồng phiến. Sau khi mua được số ma túy, C mang về nhà cất giấu vừa sử dụng vừa bán cho người khác. Ngày 06/9/2022, C bán cho Nguyễn Minh T 50 viên ma túy hồng phiến với giá 1.500.000 đồng. Ngày 06/10/2022 Cơ quan điều tra tiến hành khám xét và thu giữ 5.518 viên ma túy còn lại. Ngoài ra, C khai nhận đã bán ma tuý cho Nguyễn Minh T khoảng 3 đến 4 lần. Kết quả giám định 5.472 viên ma tuý thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của C là loại Methamphetamine, khối lượng 568,64g Như vậy, bị cáo Trần Mạnh C tàng trữ 568,64g ma túy nhằm mục đích mua bán.

Hành vi của bị cáo Trần Mạnh C đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 như bản án sơ thẩm đã qui kết là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức ma túy sẽ gây ra hiểm họa cho con người, là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác trong xã hội nhưng vì lợi nhuận bất hợp pháp nên vẫn thực hiện mua bán trái phép ma túy.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét bị cáo Trần Mạnh C được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cha bị cáo từng tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được Nhà nước trợ cấp một lần. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo cung cấp tài liệu chứng cứ thể hiện bị cáo đang bị bệnh viêm màng não, đây là tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Việc bị cáo tự nguyện giao nộp ma tuý khi Cơ quan điều tra khám xét chổ ở là hành vi tích cực nhưng chưa đủ cơ sở để áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo mua bán ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 568,64g là lớn nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo hình phạt tù chung thân là tương xứng tính chất hậu quả hành vi phạm tội. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và của các người bào chữa đề nghị chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho bị cáo.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Mạnh C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh C;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 10/01/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

1. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Trần Mạnh C tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam, ngày 06/10/2022.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

Bị cáo Trần Mạnh C phải chịu 200.000đ.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ