vanban.org

Bản án 124/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu T đối với chị Trần Mỹ H.

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu T được ly hôn với chị Trần Mỹ H. Về con chung: Anh Nguyễn Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 01/3/2013, cháu Nguyễn Minh H1, sinh ngày 24/11/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Huu T ly hôn với chị Trần Mỹ H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu T đối với chị Trần Mỹ H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIUỘC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:124/2023/HNGĐ–ST
Ngày: 21-11-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Trường Tam;

2. Ông Trần Văn Đoàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thơ- Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 519/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17/10/2023, về “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày: 26/10/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1984, cư trú: Ấp V, xã P, huyện C, tỉnh Long An. (có mặt)

2. Bị đơn: Chị Trần Mỹ H, sinh năm: 1986, thường trú: 45/26, H, Phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 07/8/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Hữu T trình bày:

Anh Nguyễn Hữu T và chị Trần Mỹ H xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 04/8/2011. Hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc trong thời gian đầu. Sau khi kết hôn, anh T và chị H sống chung với gia đình anh T ở xã P, huyện C đến giữa năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, chị H về nhà mẹ ruột chị H ở ấp L, xã L, huyện C sống đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến anh T yêu cầu ly hôn là do chị H và anh T khác biệt về quan điểm sống, không thấu hiểu nhau, thường hay cải vả về việc nuôi con, tiền bạc, mối quan hệ với những thành viên khác trong gia đình. Thời gian không sống chung, anh T và chị H không có giải pháp để đoàn tụ. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T yêu cầu ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh T và chị H có 3 người con chung: Nguyễn Minh T1, sinh ngày 01/3/2013, Nguyễn Minh H1, sinh ngày 24/11/2014, Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 01/7/2017. Hiện tại anh T đang nuôi dưỡng cháu T1 và cháu H1. Chị H đang nuôi dưỡng cháu V. Nếu Tòa án cho ly hôn, anh T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 và cháu H1, đồng ý để chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu V. Mức cấp dưỡng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Trần Mỹ H đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các văn bản tố tụng khác hợp lệ, cũng như triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai, nhưng chị H đều vắng mặt không có lý do. Chị H cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến của chị đối với yêu cầu ly hôn của anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc phát biểu:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu T, anh T ly hôn với chị H.

Về con chung: Đề nghị giao anh T tiếp tục nuôi dưỡng các con chung là cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 01/3/2013, cháu Nguyễn Minh H1, sinh ngày 24/11/2014. Chị Trần Mỹ H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 01/7/2017.

Về mức cấp dưỡng: Anh T không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến; chị H vắng mặt không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 của các Điều 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Trần Mỹ H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H.

Về nội dung vụ án:

Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 82 ngày 04/8/2011 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An cấp thì anh Nguyễn Hữu T và chị Trần Mỹ H là vợ chồng hợp pháp.

Anh T và chị H xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh T trình bày là vợ chồng bất đồng quan điểm, không thấu hiểu nhau, thường xuyên cải vã về việc nuôi con, tiền bạc, mối quan hệ với những thành viên khác trong gia đình. Vợ chồng hiện không còn sống chung từ năm 2021 đến nay. Trong thời gian không sống chung, anh T và chị H không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có mở phiên hòa giải, nhưng anh, chị không thể đoàn tụ được do chị H không tham dự. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh T, chị H đã trầm trọng, thời gian anh chị không sống chung đã lâu, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Hữu T là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Anh T và chị H có 3 người con chung: Nguyễn Minh T1, sinh ngày 01/3/2013, Nguyễn Minh H1, sinh ngày 24/11/2014, Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 01/7/2017. Hiện tại anh T đang nuôi dưỡng cháu T1 và cháu H1. Chị H đang nuôi dưỡng cháu V; điều kiện sống của các cháu đã ổn định. Tại phiên tòa, anh T đề nghị tiếp tục nuôi cháu T1, cháu H1; còn chị H nuôi cháu V. Do đó, căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao anh T tiếp tục nuôi dưỡng các con chung là Nguyễn Minh T1, sinh ngày 01/3/2013, Nguyễn Minh H1, sinh ngày 24/11/2014. Chị Trần Mỹ H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 01/7/2017. Việc giao các cháu T1, cháu H1 cho anh T nuôi dưỡng cũng phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của hai cháu.

Về mức cấp dưỡng: Anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị H vắng mặt không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Tạm ứng án phí anh T đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012600, ngày 17/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc chuyển sang án phí sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39 và 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 và 86 của Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu T đối với chị Trần Mỹ H.

1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu T được ly hôn với chị Trần Mỹ H.

2. Về con chung: Anh Nguyễn Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 01/3/2013, cháu Nguyễn Minh H1, sinh ngày 24/11/2014.

Chị Trần Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 01/7/2017.

Về cấp dưỡng: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Tạm ứng án phí anh T đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012600, ngày 17/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc chuyển sang án phí sung quỹ Nhà nước.

Án sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ