vanban.org

Bản án 124/2022/ST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vi Thị T ly hôn anh Lô Văn H.

Về con chung: Giao cháu Lô Thị Bảo Tr, sinh ngày 07/9/2013 cho chị Vi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Tr đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Lô Văn H. Anh Lô Văn H có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vi Thị T ly hôn anh Lô Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2022/ST - HNGĐ
Ngày 21/9/2022.
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hà Minh Tuấn, bà Phạm Thị Anh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2022/TLST - HNGĐ ngày 17/6/2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXX – ST ngày 10 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1995

Bị đơn: Anh Lô Văn H, sinh năm 1993.

Đều có địa chỉ: Bản Đ T, xã Th N, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Chị

Tcó mặt, anh H vắng mặt không có lý do.

Bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn chị Vi Thị T có ông Phạm Thế Kỷ- Trợ

giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa chị Vi Thị T trình bày: Chị với anh Lô Văn H kết hôn với nhau vào ngày 28/10/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Thành Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến đầu năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do quan điểm sống không phù hợp, anh H không chăm lo cho gia đình, không quan tâm đến vợ, con. Mặc dù trước đó đã được chị cũng như hai bên gia đình khuyên nhủ, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả và vợ, chồng đã ly thân từ tháng 5 năm 2022 đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Lô Văn H.

Về con chung: Chị và anh Lô Văn H có 01 người con chung với nhau là Lô Thị Bảo Tr, sinh ngày 07/9/2013. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chị và anh Lô Văn H không nợ một tổ chức hay cá nhân nào.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các thủ tục tố tụng liên quan đến vụ án cho bà Phan Thị N (mẹ đẻ anh H) để bà thông báo cho anh H biết. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa sơ thẩm anh Lô Văn H vắng mặt và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Các Điều 81, 82, 83 và Điều 94 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Lô Văn H, giao con chung cho chị Vi Thị T nuôi dưỡng, tạm hoãn phần cấp dưỡng nuôi con cho anh Lô Văn H, chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của người bào vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn: Qua nghiên cứu hồ sơ cũng như tại phiên tòa hôm nay thấy rằng việc chị T và anh H kết hôn là hợp pháp, tuy nhiên sau khi kết hôn hai người không biết thương yêu, chăm sóc cho gia đình của mình dẫn đến mâu thuẫn và hai người ly thân đã lâu. Xét tình cảm giữa chị T và anh H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX cho chị T được ly hôn anh Lô Văn H, giao con chung cho chị T chăm sóc và nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ tại huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 29/8/2022 bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn Tòa án đã niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa, trong Quyết định hoãn có ấn định thời gian mở lại phiên tòa để anh H biết nhưng anh H vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh H là đúng với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Vi Thị T và anh Lô Văn H có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thành Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do các bên không biết yêu thương, tôn trọng lấn nhau. Việc vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả và vợ chồng đã ly thân. Xét tình cảm vợ chồng giữa chị Vi Thị T và anh Lô Văn H thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vi Thị T như lời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là có căn cứ.

Về con chung: Chị Vi Thị T và anh Lô Văn H có 01 người con chung với nhau là Lô Thị Bảo Tr, sinh ngày 07/9/2013. Nay ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, quá trình lấy lời khai cháu Tr cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, hơn nữa hiện nay anh H không có mặt tại địa phương. Để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho cháu Tr. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu Lô Thị Bảo Tr cho chị Vi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn phần cấp dưỡng nuôi con cho anh Lô Văn H là hợp lý.

Về tài sản chung: Chị Vi Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét và hiện nay chị không nợ một tổ chức hay cá nhân nào. Nếu sau nay anh Lô Văn H có khởi kiện thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị Vi Thị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vi Thị T ly hôn anh Lô Văn H.

Về con chung: Giao cháu Lô Thị Bảo Tr, sinh ngày 07/9/2013 cho chị Vi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Tr đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Lô Văn H. Anh Lô Văn H có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Áp dụng điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Vi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000697 ngày 17/6/2022. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ