- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vu Van T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:124/2022/HS-ST Ngày 20-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Trần Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Toà án nhân dân quận Lê Chân và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng, đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 342/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Vũ Văn T, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1961tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; chỗ ở hiện nay: Số 7/2/19/225/292 L, phường K, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 2/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ văn C và bà Dương Thị M (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H (Đ) và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 14/6/2022; tạm giam ngày 23/6/2022; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 06 giờ 30 phút, ngày 14/6/2022, tổ công tác thuộc Công an phường Kênh Dương kết hợp với Công an quận Lê Chân làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn thì phát hiện Vũ Văn T có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy nên đã tiến hành kiểm tra và phát hiện tại túi áo khoác bên trái của T có 12 gói giấy màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy nên đã dẫn giải T về trụ sở Công an phường Kênh Dương để lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 275/KLGĐ-MT ngày 17/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự CATP. Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng chứa trong 12 gói giấy thu giữ của Vũ Văn T là ma túy, có khối lượng 0,86 gam, là loại Heroine;
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn T khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 12/6/2022, Vũ Văn T điều khiển xe máy BKS: 16R8-9149 đến khu vực ngõ 96 Chợ Hàng, Lê Chân, Hải Phòng để tìm mua ma túy Hêrôin về bán kiếm lời. Khi vào trong ngõ 96 Chợ Hàng khoảng 70m thì T gặp 01 người nữ giới khoảng 70 tuổi từng bán ma túy cho T nên T lại gần nói với người nữ giới “Ở đây có hàng không lấy hộ tôi một ít” (ý của T là có ma túy không thì bán cho T một ít). Người nữ giới đồng ý bán cho T 15 gói ma túy với giá 120.000 đồng/gói ma túy. T hẹn người nữ giới ngày 14/6/2022 lấy ma túy. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 14/6/2022, T một mình điều khiển xe máy BKS 16R8-9149 đến điểm hẹn để lấy ma túy. Khi gặp nhau người nữ giới đưa cho T 01 túi nilong bên trong có 15 gói giấy màu trắng( loại giấy vở học sinh) đều chứa ma túy Hêroin T nhận túi nilong chứa 15 gói giấy rồi hẹn ngày hôm sau sẽ trả tiền. Trên đường T xé túi nilong bọc ngoài để lấy 15 gói Hêroin cho vào túi áo ngoài bên trái đang mặc rồi di chuyển đến khu vực Big C, thuộc địa bàn quận Ngô Quyền, Hải Phòng để bán 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng cho 01 người nam giới hẹn mua trước đó.
Sau khi bán ma túy xong T tiếp tục điều khiển xe máy đi về khu vực ngã tư giao giữa đường Thiên Lôi với đường Võ Nguyên Giáp, Lê Chân, Hải Phòng. Trên đường, T gặp 01 người nam giới đã từng mua ma túy của T, người nam giới này hỏi xin của T 01 gói Hêroin, T đồng ý và đưa cho nam giới 01 gói Hêroin. T nhận được điện thoại của người nam giới hẹn đến công trường Hoàng Huy để mua ma túy nên T tiếp tục điều khiển xe máy đến khu vực đã hẹn và bán cho 01 người nam giới 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng. Sau đó, T đi về đến trước cửa nhà số 728 Thiên Lôi, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng thì bị tổ công tác kiểm tra và bắt giữ.
Lời khai của T phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ,phù hợp với báo cáo bắt giữ, phù hợp với vật chứng thu giữ và kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu giữ, trong số tiền thu giữ của T có 300.000 đồng là tiền T đã bán 02 gói ma túy cho hai người nam giới và 5.800.000 đồng là tiền cá nhân của T do lao động mà có.
Đối với chiếc xe mô tô BKS: 16R8-9149, quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu hợp pháp là của chị Nguyễn Thị Đ vợ của T, chị Đ không biết Thảo sử dụng phương tiện vào việc mua bán trái phép chất ma túy. Nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại cho chị Đ.
Đối với người nữ giới bán ma túy cho T và 02 nam giới đã mua ma túy của T do T không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể của những người này nên không có cơ sở để xử lý.
Bản Cáo trạng số 133/CT-VKSLC ngày 23/11/2022 Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố Vũ Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa bị cáo đã khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Vũ Văn T và đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b Khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Do bị cáo thực hiện hành vi bán ma túy nhằm kiếm lời nênđề nghị HĐXX phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để tịch thu Ngân sách Nhà nước.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 275 MT/PC09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại còn lại sau giám định;
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen có IMEI: 354432110647143 dùng vào việc phạm tội và số tiền 300.000 đồng là tiền do phạm tội mà có, trả lại bị cáo số tiền 5.800.000 đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
Bị cáo là người cao tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Về tội danh:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Từ khoảng 05 giờ 30 phút đến 6 giờ 30 phút ngày 14/6/2022, Vũ Văn T đã có hành vi bán 01 gói ma túy cho 01 người nam giới tại khu vực Big C được 150.000 đồng, sau đó T tiếp tục bán 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng cho một nam giới khác tại khu vực công trường Hoàng Huy trên đường Thiên Lôi, quận Lê Chân, Hải Phòng và bị bắt quả tang tại trước cửa nhà số 728 Thiên Lôi, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, Hải Phòng khi đang cất giữ 0,86 gam ma túy là loại Hêroin với mục đích để bán kiếm lời, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tặng nặng phạm tội 02 lần trở lên vi phạm tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra sau khi bị bắt giữ bị cáo đã tự đã khai báo trước đó bị cáo đã có hành vi bán 02 lần ma túy cho 02 nam giới không quen biết nên HĐXX cũng xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự thú được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo bán trái phéo chất ma túy để thu lợi cho bản thân nên áp dụng khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung với số tiền 5.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong số 275MT/PC09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại còn lại sau giám định xét đây là vật cấm tàng trữ lưu hành và không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 điện thoại Mastel màu đen bị cáo sử dụng vào việc liên lạc bán trái phép chất ma túy nên căn cứ điểm b khoản 1Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 6.100.000 thu giữ của T xét có 300.000 đồng là tiền Thảo bán ma túy mà có nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp Ngân sách nhà nước, số tiền 5.800.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ vào khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
Về án phí: Do bị cáo là người cao tuổi nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ ngày 30 tháng 12 năm 2016 UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Văn T 07 ( bảy ) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14 tháng 6 năm 2022.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 275 MT/PC09đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại còn lại sau giám định .
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Masstel màu đen có IMEI 1: 354432110647143 và IMEI 2:354432110750145 có lắp sim và số tiền 300.000 đồng.
-Trả lại bị cáo số tiền 5.800.000 đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo Thi hành án
(Theo Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 23 tháng 11 năm 2022 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, Hải Phòng và theo Giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước quận Lê Chân ngày 25/11/2022 của Công an quận Lê Chân)
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Văn Thảo được miễn án phí hình sự sơ thẩm .
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Quận Lê Chân; - VKSND TP Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an Quận Lê Chân; - Cơ quan THAHS Công an Quận Lê Chân; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - UBND phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; - Chi cục Thi hành án dân sự Q.Lê Chân; - PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |